Thư đến: '... Xin Thầy cho con vài lời khuyên'
Thưa Thầy,
Con tên là N H M, con ở Katy, Texas.
Con cảm thấy xấu hổ và buồn rầu khi con từ bỏ cương vị của môt người mẹ, không chịu đi ra ngoài làm chung với chồng để giúp đỡ trong gia đình cho đời sống con của con được đỡ đau khổ và nhất là đứa con út của con, nó nhớ ba nó nhiều lắm. Chắc chắn con là người của thời mạt kiếp này và đời sống con còn nhiều cay đắng nữa.
Ai gặp con cũng sợ hay tránh né hết. Con làm nhiều người đau khổ lắm.
Đã 2 lần Thầy chỉ con cách từ bỏ nghiệp tâm, nhất là cách đây 3 tháng, gia đình con chắc không khổ như ngày nay.
Thầy đã chỉ con cách thay đổi hoàn cảnh mà con chần chờ không chịu làm. Có lẽ con gặp bác sĩ tâm thần vào ngày 15 tháng 7. Những ngày còn lại của đời con, con ăn chay niệm Phật và làm gò nữa Thầy. Xin Thầy cho con vài lời khuyên. Con nhờ vào quyền lực của Thầy để gia đình con trở nên đỡ khổ một chút sau một thời gian, con hy vọng.
Khi con đi ra ngoài, cái gì cũng làm con nhớ là tại sao mình không làm chung với anh ta và con không thức tâm để thực hành điều này. Con sợ thất bại, do đó con không muốn cố gắng nữa. Con biết con sống mà con không thương yêu gia đình của con.

Con, H M
 
Thư đi:
Atlantic City, ngày 7/7/97

H M,
Thầy đã nhận được nhiều lần điện thoại của con và thư, được biết con đang bị bệnh tâm thần. Cần niệm Phật bằng ý để tự cứu và xin bác sĩ tâm thần để chữa trị thì thần kinh của con sẽ khôi phục từ từ. Phải chấp nhận những sự chỉ dẫn của bác sĩ và niệm Phật khi rảnh rỗi, dẹp bỏ những sự suy nghĩ không cần thiết cho tâm lẫn thân của con. Ngày đêm chỉ niệm Phật và uống thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ. Chỉ niệm Phật thì mới tự giải những sự trần trược mà con thu nhập từ nhiều kiếp, đã và đang bám sát thần kinh của con. Nếu con không chịu thực thi đứng đắn theo lời khuyên bảo và chỉ dẫn của bác sĩ và Thầy thì bệnh của con sẽ càng ngày càng nặng hơn.
Chúc con vui khỏe và chấp nhận hoàn cảnh hiện tại và siêng năng niệm Phật.

Quý thương,
Lương Sĩ Hằng
OngTamwriting
 
Vài thư đi thư lại mới đây
281. Ngày 11-08-1993. Người viết: L
282. Ngày 15-04-1993. Người viết: LNM
283. Ngày 01-07-1993. Người viết: T B
284. Ngày 17-12-1992. Người viết: NTT
285. Ngày 12-09-1991. Người viết: NKT
286. Ngày 30-06-1993. Người viết: VVH
287. Ngày 28-00-1993. Người viết: LTVA
288. Ngày 15-07-1993. Người viết: LVB
289. Ngày 25-05-1993. Người viết: TN
290. Ngày 20-06-1993. Người viết: LĐ
291. Ngày 25-07-1993. Người viết: VVT
292. Ngày 25-08-1993. Người viết: TVT
293. Ngày 25-09-1992. Người viết: VQM
294. Ngày 10-12-1992. Người viết: NĐM
295. Ngày 07-01-1993. Người viết: N
296. Ngày 05-01-1993. Người viết: LMT
297. Ngày 12-03-1999. Người viết: LTL
298. Ngày 05-03-1999. Người viết: ĐP
299. Ngày 17-07-2002. Người viết: PBT
300. Ngày 09-10-2001. Người viết: NTTM
 
của tổng cộng 811 thư đi thư lại (được phổ biến) theo thứ tự ngược lại của ngày tải lên Thư Viện.
left-blu2 left-blu3 11 12 13 14 [15] 16 17 18 19  right-blu3 right-blu2
 
 
 
down-yel gif
Hướng dẫn cách dùng
(1)Trang 'Thư Từ Lai Vãng', cũng như cả VoviLib, là một phương tiện của chung, chứa đựng những thư đi thư lại trên đường hoằng pháp của thiền sư Lương Sĩ Hằng và bạn đồng hành trong suốt những năm Ngài còn tại thế. Chúng tôi lưu trữ những thư từ ấy trong chữ viết trong database để giúp việc truy cập của hành giả được dễ dàng hơn.
(2)Khung Tìm nhỏ ở bên trên có thể giúp quý vị tìm bài. Để sử dụng, đánh vào khung vài chữ muốn tìm của lá thư, chẳng hạn như 'VHT' (viết tắt tên người viết thư) và bấm 'Go'. Nếu tìm theo năm tháng, cần đánh theo thứ tự 'năm-tháng-ngày'. Thí dụ: '1988', hay '1988-07', hay '1988-07-06'. Nếu để trống và bấm 'Go', kết quả sẽ là tất cả thư từ hiện có! Xin dùng kiểu chữ Unicode.
(3)Để đọc một lá thư tìm được, bấm vào link của thư đó, lá thư sẽ hiện ra phía bên trái.
(4)Nếu bạn có account và đã login, có thể dùng link "Tải Thư Từ Lai Vãng lên Thư Viện" hiện ra ở bên trên để mang thư vào.
 

(Thư viện đang gom góp các thư từ lai vãng của Đức Thầy và hành giả Vô Vi. Kính mời quý bạn đạo gần xa đóng góp cho kho tàng chung này ngày càng đầy đủ hơn. Đa tạ.)

Tìm: