Thư đến: '... Lúc đầu con định qua đây ăn chay luôn nhưng trời lạnh quá nên ăn có 10 ngày.'
24/2/97

Kính Thưa Đức Ông Tám,
Con được thư ông con rất mừng, con biết ông đâu có trị bịnh thế gian, vợ chồng đứa con gái lớn nó hỗn quá, nó viết thư cho ông nó thách ông qua Na Uy. Nó nói con tu tà, nó biểu con bỏ đạo tu theo trong chùa, con không chịu nên nó kiếm đủ chuyện, bắt bẻ đủ thứ. Con có 5 đứa con (2 trai, 3 gái), một đứa nhỏ có chồng ở Úc, còn bốn đứa kia vượt biên qua Na Uy. Trước hết con con định qua đây coi các con làm ăn ra sao, nhà cửa như thế nào rồi con xin đi tu. Con nghĩ con làm tròn phận sự làm con, làm vợ, làm mẹ lo cho con lớn khôn, ngày nay chúng nó có công việc làm đầy đủ như vậy con yên tâm đi tu, nào ngờ nghiệp con quá nặng, qua đây mới hay, tiền mất hết, các con nó phân ra 4 đứa phải nuôi đồng đều mỗi đứa nuôi 3 tháng, lại ở nhà chúng nó nuôi ăn chớ không cho tiền. Con ở nhà đứa gái lớn, vợ chồng nó làm khổ con đủ thứ, con khóc ước gì con được đi tu.
Ông Tám ơi! Con ráng học nhẫn học hòa, con ăn chay bị chóng mặt, bị nó rầy con không biết phải làm sao, con chỉ ăn có 10 ngày mỗi tháng. Lúc đầu con định qua đây ăn chay luôn nhưng trời lạnh quá nên ăn có 10 ngày.
Con xin thưa Đức Ông Tám cho con xin địa chỉ cô B, con muốn thỉnh phù hiệu bằng vàng là bao nhiêu tiền và gởi bằng cách nào, con nhà quê, phần mắt đau không thấy đường đi một mình, bữa nay mắt con mờ lắm nên viết mò, con coi chữ phải có kiếng rọi chữ lớn mới coi được. Con nguyện một lòng một dạ tu Vô Vi cho tới hết cuộc đời con. Con ráng tu cho các con nó thấy, con biết Đức Ông Tám có về với con trong lúc thiền, có bữa đó con ngồi thiền thấy có một cái cây thẳng ở sau lưng con như vậy là ông nhắc con ngồi thẳng lưng.
Kính lạy Đức Ông Tám thương con xin dạy cho con phải làm thế nào để trả nghiệp cho mau, con bằng lòng trả nghiệp dù đau khổ thế nào con cũng ráng không bao giờ nản chí.
Không biết nghiệp lực con thế nào mà cứ xây xẩm chóng mặt hoài, có lẽ tại con mắt con.
Con cầu xin Ơn Trên cho Đức Ông Tám được nhiều sức khỏe mà dìu dắt các con tu.
Con có được một bộ băng "Sống Chung Hòa Bình", con nghe đi nghe lại con có cảm tưởng như con được dự bữa hội đó.
Bao giờ con mới gặp được Đức Thầy.
T
 
Thư đi:
Sydney, ngày 23/03/97

T con,
Ông Tám vui nhận được thư con đề ngày 24/02/97, được biết con đang bị nhồi quả của nghiệp lực gia cang.
Các con của con thương quý con mới lo sợ mẹ hiền tu sai đường cũng nằm trong sự âu yếm giữa mẹ con. Ông Tám không bao giờ giận các con của con vì nó chưa hiểu Ông Tám mà thôi, vì tình thương mẹ hiền hòa làm vậy đó thôi. Ông Tám là người tu đã từng vượt qua giai đoạn đó, không sao đâu. Con đang đứng trong vị thế khó xử vì con muốn tu mà thiếu hành cho nên bực tức. Nếu con cương quyết hành đúng theo nguyên lý của Trời Đất thì sẽ vui nhận những sự kích động và kích động của gia cang mà tự tu tự tiến, lấy oán làm ân thì con sẽ vui. Trước kia Ông Tám tu cũng vậy, toàn thể gia đình đều chống đối nhưng Ông Tám cương quyết hướng về Trời Phật mà tu, mãi cho đến nay vẫn không thay đổi. Lập trường của Ông Tám trước sau là một. Tình trạng của con hiện tại không khác gì Ông Tám trước kia. Con nên cảm ơn các con yêu quý của con mà hành sự thì mọi việc sẽ tốt đẹp ở tương lai. Ông Tám không có cách gì hơn bằng con tự thức.
Chi B đi theo Thầy có cho hay phù hiệu lúc này bạn đạo xin hết, chưa có cái mới. Tu là cần thiết hơn phù hiệu, bằng vàng bạc cũng là vật chất thôi, cần tu để tự thức là quan trọng hơn. Vô Vi không cần chay mặn nhưng cần thật tu mà thôi. Con có dịp nghe băng giảng của Ông Tám con cảm thấy chính con phải tu sửa nhiều hơn. Ông Tám không lợi dụng và phá hoại gia cang.
Chúc con vui tiến.

Quý thương,
Lương Sĩ Hằng
OngTamVietThu2
 
Vài thư đi thư lại mới đây
281. Ngày 27-07-1997. Người viết: NN
282. Ngày 13-11-1996. Người viết: LLN
283. Ngày 22-01-1997. Người viết: H
284. Ngày 20-12-1996. Người viết: NHM
285. Ngày 22-01-1997. Người viết: NHC
286. Ngày 01-02-1997. Người viết: PTM
287. Ngày 27-09-1997. Người viết: NT
288. Ngày 20-08-1997. Người viết: NT
289. Ngày 19-08-1997. Người viết: NT
290. Người viết: NT
291. Ngày 14-02-1997. Người viết: ĐTKT
292. Ngày 12-01-1997. Người viết: NDH
293. Ngày 04-08-1997. Người viết: LTB
294. Ngày 07-10-1997. Người viết: TVN
295. Ngày 05-10-1996. Người viết: ĐTNS
296. Ngày 01-07-1997. Người viết: P
297. Ngày 20-05-1997. Người viết: T
298. Ngày 15-07-1997. Người viết: TC
299. Ngày 28-06-1997. Người viết: LSH
300. Ngày 15-04-1997. Người viết: VK
 
của tổng cộng 786 thư đi thư lại (được phổ biến) theo thứ tự ngược lại của ngày tải lên Thư Viện.
left-blu2 left-blu3 11 12 13 14 [15] 16 17 18 19  right-blu3 right-blu2
 
 
 
down-yel gif
Hướng dẫn cách dùng
(1)Trang 'Thư Từ Lai Vãng', cũng như cả VoviLib, là một phương tiện của chung, chứa đựng những thư đi thư lại trên đường hoằng pháp của thiền sư Lương Sĩ Hằng và bạn đồng hành trong suốt những năm Ngài còn tại thế. Chúng tôi lưu trữ những thư từ ấy trong chữ viết trong database để giúp việc truy cập của hành giả được dễ dàng hơn.
(2)Khung Tìm nhỏ ở bên trên có thể giúp quý vị tìm bài. Để sử dụng, đánh vào khung vài chữ muốn tìm của lá thư, chẳng hạn như 'VHT' (viết tắt tên người viết thư) và bấm 'Go'. Nếu tìm theo năm tháng, cần đánh theo thứ tự 'năm-tháng-ngày'. Thí dụ: '1988', hay '1988-07', hay '1988-07-06'. Nếu để trống và bấm 'Go', kết quả sẽ là tất cả thư từ hiện có! Xin dùng kiểu chữ Unicode.
(3)Để đọc một lá thư tìm được, bấm vào link của thư đó, lá thư sẽ hiện ra phía bên trái.
(4)Nếu bạn có account và đã login, có thể dùng link "Tải Thư Từ Lai Vãng lên Thư Viện" hiện ra ở bên trên để mang thư vào.
 

(Thư viện đang gom góp các thư từ lai vãng của Đức Thầy và hành giả Vô Vi. Kính mời quý bạn đạo gần xa đóng góp cho kho tàng chung này ngày càng đầy đủ hơn. Đa tạ.)

Tìm: