Thư đến: '... xin Đức Ông cho con xin vài lời khuyên để con có mãi bên mình giữ làm quà bửu bối'
Nam Mô A Di Đà Phật
Ngải Giao, 24/12/96

Kính hầu thăm Đức Ông Tám,
Con tên là L A T, 39 tuổi tuất. Hôm nay nhân dịp cô Ba về thăm VN, con rất vui mừng và sung sướng khi được nghe cô kể về Đức Ông.
Nay trước khi cô ra đi, con cũng tạm gởi lên đôi lời thành kính hỏi thăm sức khỏe Đức Ông.
Hiện con đang hành theo pháp này đã được 7 năm. Vậy hôm nay con viết lên đây để xin Đức Ông cho con xin vài lời khuyên để con có mãi bên mình giữ làm quà bửu bối.
Con kính cầu chúc Đức Ông luôn luôn khỏe mạnh và vui vẻ.
Các con của con:
Thứ 1: Nguyễn Đức L (1977) tuổi tỵ
Thứ 2: Nguyễn Đức K (1979) tuổi mùi.
Thứ 3: Nguyễn Thị Mỹ … (1982) tuổi tuất.
Thứ 4: Nguyễn Đức Phước (1985) tuổi sửu.
Thứ 5: Nguyễn thị Mỹ Hạnh (1987) tuổi mẹo.
Con xin thành tâm kính trình lên Ông tha thứ tội cho chúng con.

T
 
Thư đi:
Montréal, ngày 9 tháng 5 năn 1997

A T,
Ông Tám vui nhận được thư con đề ngày 24 tháng 12 năm 1996, cảm ơn lời chúc tụng của con.
Hiện nay con có duyên may thực hành Pháp Lý Vô Vi Khoa Hoc Huyền Bí Phật Pháp và lấy nguyên khí của Trời Đất để khai sáng chính con, không còn ỷ lại, thật tâm thực hành, Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển đều đều, đêm đêm 11 giờ tý thông khai, khai triển tâm thức của chính mình là điều cần thiết. Cứ vậy mà thực hành; Tu để trở về với thanh tịnh, tu để cứu rỗi phần hồn ở tương lai chớ không phải tu để nhờ Trời Phật làm việc cho chính ta là sai lầm. Chỉ con ma kiếm ăn mới làm việc cho chúng ta, Trời Phật không! Trời Phật là chính chúng ta tu tiến giải được nghiệp duyên chúng ta mới thăng hoa đi lên, Bên Trên mới tận độ tâm thức cho chúng ta càng ngày càng sáng suốt và tiến tới vô cùng.
Chúc con và gia đình vui tiến.

Quý thương,
Lương Sĩ Hằng
OngTamVietThu1
 
Vài thư đi thư lại mới đây
601. Ngày 30-10-1998. Người viết: TQC
602. Ngày 12-04-1999. Người viết: NQ
603. Ngày 06-10-2000. Người viết: NTLA
604. Ngày 14-03-1998. Người viết: LKÐ
605. Người viết: H
606. Ngày 30-01-2000. Người viết: NAT
607. Ngày 04-10-1998. Người viết: MC
608. Ngày 26-03-2000. Người viết: LÐH
609. Ngày 04-01-2000. Người viết: MVC
610. Ngày 09-01-2000. Người viết: TTNB
611. Ngày 01-12-1999. Người viết: TB
612. Người viết: NTN
613. Ngày 10-07-2000. Người viết: MN
614. Ngày 18-12-1999. Người viết: V
615. Tháng 01-2000. Người viết: PT
616. Ngày 13-01-2000. Người viết: HM
617. Ngày 05-06-2000. Người viết: Soeur T
618. Ngày 12-11-1999. Người viết: MT
619. Ngày 15-12-1999. Người viết: NTK
620. Ngày 10-10-1999. Người viết: PTPM
 
của tổng cộng 786 thư đi thư lại (được phổ biến) theo thứ tự ngược lại của ngày tải lên Thư Viện.
left-blu2 left-blu3 27 28 29 30 [31] 32 33 34 35  right-blu3 right-blu2
 
 
 
down-yel gif
Hướng dẫn cách dùng
(1)Trang 'Thư Từ Lai Vãng', cũng như cả VoviLib, là một phương tiện của chung, chứa đựng những thư đi thư lại trên đường hoằng pháp của thiền sư Lương Sĩ Hằng và bạn đồng hành trong suốt những năm Ngài còn tại thế. Chúng tôi lưu trữ những thư từ ấy trong chữ viết trong database để giúp việc truy cập của hành giả được dễ dàng hơn.
(2)Khung Tìm nhỏ ở bên trên có thể giúp quý vị tìm bài. Để sử dụng, đánh vào khung vài chữ muốn tìm của lá thư, chẳng hạn như 'VHT' (viết tắt tên người viết thư) và bấm 'Go'. Nếu tìm theo năm tháng, cần đánh theo thứ tự 'năm-tháng-ngày'. Thí dụ: '1988', hay '1988-07', hay '1988-07-06'. Nếu để trống và bấm 'Go', kết quả sẽ là tất cả thư từ hiện có! Xin dùng kiểu chữ Unicode.
(3)Để đọc một lá thư tìm được, bấm vào link của thư đó, lá thư sẽ hiện ra phía bên trái.
(4)Nếu bạn có account và đã login, có thể dùng link "Tải Thư Từ Lai Vãng lên Thư Viện" hiện ra ở bên trên để mang thư vào.
 

(Thư viện đang gom góp các thư từ lai vãng của Đức Thầy và hành giả Vô Vi. Kính mời quý bạn đạo gần xa đóng góp cho kho tàng chung này ngày càng đầy đủ hơn. Đa tạ.)

Tìm: