KHÓA HỌC "KINH A DI ÐÀ" - Cuốn 1

Hôm nay là ngày đầu của năm 1986; chúng ta đã vượt qua một năm 1985 dẫy đầy thử thách trong nội tâm, chiến tranh ô trược trong nội tâm. Chúng ta mọi người đều tự voi lên hứa hẹn với Bề Trên, “Tự mình mở trói cho chính mình.” Cơ duyên tại thế gây sự đau khổ, nghiệp tâm; do ai? Do mình đã trói buộc mình; và chúng ta đã phát đại nguyện tự mở trói. Một năm, một năm qua; càng lên cao càng gặp nhiều thử thách. Từ năm qua chúng ta đã vượt qua, năm nay nó lại đến với chúng ta! Thì chúng ta phải nhìn xem nên tự trói buộc mình hay là không, hay là buông bỏ để giải thoát để trở về với nơi Chánh Giác của nội tâm mà chúng ta đã hằng mong muốn?

"Làm sao giải thoát để tôi trở về với chính tôi, tôi hiểu căn bản của tôi, do đâu đến đây rồi sẽ về đâu, để tránh những sự lầm lạc nhồi quả tại thế, và nuôi dưỡng phần dũng mãnh thanh tịnh trong chu trình tiến hoa không ngừng nghỉ của Bề Trên đã ân ban và giúp đỡ triền miên 24 trên 24, giáo dục tôi, cho tôi mang thân xác tạm bợ này, trong kích động và phản động thử tâm tôi, đẩy tôi lui về sự thanh tịnh giải thoát? Mà tôi đã làm được bao nhiêu?"

Nhân ngày đầu năm của năm 1986, chúng ta kiểm thảo lại, kiểm soát lại những hành động của quá trình, chúng ta đã tháo gỡ được bao nhiêu, hay là chúng ta gây thêm rối trong nội tâm? Cái bản chất đen tối của chúng ta có vun bồi không, hay là tự nó hạ giáng? Cho nên, duyên lành đến với chúng ta, chúng ta có cơ duyên Ðời lẫn Ðạo: sự tiến triển của Ðời; ngày hôm nay chúng ta lại có sự tiến triển của Ðạo tâm. Muốn học Ðạo, lấy gì học? Dụng Tâm học Ðạo. Tâm chúng ta ở đâu? Tâm chúng ta đang quản lý, bị quản lý bởi thể xác, bởi Lục Căn Lục Trần này, nó bao vây chúng ta, nó đòi hỏi, nó kích động, nó tạo sự si mê, làm cho chúng ta bấn loạn và không tự tiến được. Ngày hôm nay chúng ta tưởng Bề Trên, chúng ta biết chúng ta có Nguồn Cội, chúng ta biết chúng ta có nơi thanh tịnh, chúng ta biết chúng ta có quyền tự giải thoát! Thì chúng ta phải tự đi! Cho nên, trong cái lúc đi đó, ai là người đi? Cái gì sẽ đi? Tâm thức chúng ta tự đi! Tâm thức muốn được đi phải dứt khoát Thất Tình, Lục Dục trong nội tâm của chúng ta.

Cho nên, các bạn về đây tham dự cái khóa tu học này, ghi chép trong đầu năm của 1986, các bạn phải ý thức rõ ràng: những sách vở để trên bàn này, không nhiều thì ít các bạn cũng nghe và cũng đọc qua rồi: "Nghịch Ðời mới về Ðạo:" tâm chúng ta phải dứt bỏ tất cả những trần tâm, si mê, kích động mà chính mình đã tạo cho chính mình, nhiên hậu chúng ta mới có cơ hội học và tiến; nếu không thì tự giam mình và rút thêm nhiều rút troí buộc lấy tâm thức.

Cho nên, con đường tu học thấy nó dài, nhưng mà chúng ta phải ý thức rõ ràng thì tự nhiên nó phải ngắn. Cho nên, các bạn, tại sao không có đi chùa chiền, không có đi cúng bái, mà các bạn tu Thiền; để làm gì? Các bạn đã ý thức rồi: "Tôi phải rút ngắn đường đi." Chính Ðức Phật đã thành công, những vị tiền bối đã đi trước, đã thành công, do sự cố gắng giải tỏa phiền muộn sái quấy trong nội tâm, mới thành đạo. Ngày nay, chúng ta noi gương gì đây? Noi gương ai? Của những vị đã thành công. Mà những vị thành công lưu lại những gì? Những lời nói quý báu và kỹ thuật tháo gỡ những cái nghiệp tâm của Ngài, và Ngài mới đắc đạo; hành động cho tới lý thuyết.

Mà ngày nay chúng ta đã am thức, đã hiểu rõ chưa? Vỏn vẹn cái Nguyên Lý “Nam, Mô, A, Di, Ðà, Phật,” có sáu chữ, mà có nhiều bạn ngày hôm nay chưa đem vào tâm được! Nhiều người niệm cho có chừng, có nạn mới niệm, mà không biết đây là cái phương thức để mình giải tỏa cái nghiệp tâm, đây là chìa khóa để tháo gỡ những sự rắc rối trong nội tâm của chúng ta và để cho chúng ta tiến hóa trong Ba Cõi. Nhưng mà chưa ý thức nổi: thấy sách nào cũng ham; thấy chơn lý nào cũng đọc; thấy lời nói nào cũng hay, cũng theo; thấy vị nào giáng lâm cũng theo; nhưng mà hành không có bao nhiêu!

Cho nên, ngày hôm nay chúng ta mới bắt buộc, "Mình phải phát một đại nguyện để cứu mình và cứu đời!" Cho nên, chúng ta phải học. "Học cái gì? Tại sao tôi phải học? Lấy caí gì mà học?" Phải lấy sự thanh tịnh hòa với thanh tịnh, mới là học; mà lấy sự động loạn, hòa với thanh tịnh, là không bao giờ học được! Bên trong các bạn có sự thanh tịnh, có sự sáng suốt; có thanh tịnh mới có sáng suốt; có sáng suốt mới nhận được những gì ban chiếu trong nội tâm các bạn, kêu bằng, "Tâm tâm tương ứng." Hiểu giá trị của luồng điển: sự nóng ấm trong cơ tạng của các bạn đây là Ðiển; không có Ðiển, không có di chuyển được! Mà Ðiển các bạn ngày hôm nay có chiều hướng trụ trên trung tim bộ đầu để giải tiến rồi hòa với Thanh Giới để triền miên học hỏi Chơn Lý trong nội thức. Nhưng mà vì bận rộn của tình đời, so đo bởi cái miệng: nội cái ăn không, nó làm động loạn rồi; rồi cái nói, nó động loạn thêm; cái nghe, nó động loạn thêm; cái thấy, nó động loạn thêm; cái ngửi, nó cũng động loạn thêm! Nó gút rối như tơ vò, lấy gì mà tháo? Cho nên, phải lui về thanh tịnh mới tháo được; nếu các bạn không lui về thanh tịnh thì không có bao giờ mà các bạn tháo được! Một khối tơ vò, mà bạn không thanh tịnh thì kỹ thuật tháo gỡ không bao giờ mở được!

Cho nên, chúng ta rất may mắn có Ðạo đến với chúng ta; và chúng ta có cơ hội, có phương tiện để ngồi đây đàm đạo và học hỏi từ ly từ tí: chính ta là người trách nhiệm tháo gỡ những sự phiền muộn sái quấy của nội tâm: bệnh hoạn chính ta đã đem vào thân, thì chính ta là y sĩ tự trị! Nếu chúng ta không biết trị bịnh cho chính chúng ta thì có y sĩ giỏi cách mấy ở thế gian này, không có người nào giúp được chúng ta! Vì cái tánh đã ràng buộc cái tâm: Lục Căn Lục Trần đã hoành hành, giam Chủ Nhơn Ông, làm cho Chủ Nhơn Ông khổ não, phiền muộn, sái quấy. Ngày hôm nay Lục Căn Lục Trần biết tu, biết nghe lệnh Chủ Nhơn Ông, ngồi tham thiền là dứt khoát trần tâm; thì Chủ Nhơn Ông mới rảnh rỗi, là phần Hồn các bạn mới rảnh rỗi.

Cho nên, "Bệnh do tánh sanh," tôi đã thường nói; tánh hàng phục, dẹp cái tánh sân si, dẹp cái tánh si mê, dẹp cái tánh cầu xin động lọan qua một bên thì Chủ Nhơn Ông mới rảnh rỗi tiến hóa, mới dìu tiến được Lục Căn Lục Trần; thì cái bệnh nan y phải tiêu diệt. Có phải "Hành" không các bạn? Các bạn đã và đang hành! Phải hành những chuyện gì đây? “Tôi ngồi mỏi lưng, tôi cục cựa, đó là tôi hành?" Không phải! "Tôi hành trong cái thức tu, tôi chủ trị tôi; sự thanh nhẹ của tôi ở đâu, tôi phải lui về!" Mà muốn lui về thì các bạn phải học nhẫn, vô cùng nhẫn, vô cùng nhịn nhục.

Cho nên, các bạn phải theo cái chiều hướng hít thở của trong nội tâm các bạn, để các bạn lắng nghe nguyên ý “Nam, Mô, A, Di, Ðà, Phật” nó khai mở từ đâu đến đâu: chuyển chạy toàn thân các bạn. Có Tam Giới: Thượng, Trung, Hạ; có đầy đủ. Hỏi chớ, “Giới nào chúng ta đã tận tâm sáp đặt giải tiến cho nó, mà giới nào chúng ta đã bỏ phế?” Nhiều bạn, hỏi thét một hồi, "Ba giới, tôi cũng chưa có lo!" Thì cái thời gian các bạn lưu trú học hành tại quả điạ cầu này được bao lâu? Giới hạn; có mấy chục năm rồi phải ra đi! Mà nếu các bạn không chịu học, rồi ai là người cứu bạn? Nếu các bạn không chịu học là các bạn tự giết bạn mà thôi, tự chôn sống tâm linh của các bạn mà thôi: từ sự thanh nhẹ mà đi tới sự ô trược!

Cho nên, nhiều người phản lại đạo tâm, nói, "Tôi mưu tìm hạnh phúc; nếu tôi tu thiền, thì tôi lãnh cảm, làm sao tôi gần được vợ con?" Cái đó là cái sái quấy vô cùng; không hiểu! Hỏi chớ, tham dục đạt được hạnh phúc ư? Không! Tất cả ở thế gian đều trả lời "Không! Tham dục không đạt được hạnh phúc!” Nếu đạt được hạnh phúc là mấy người điếm trong nhà điếm nó đạt được hạnh phúc rồi; mỗi ngày nó dục bao nhiêu lần, nó đạt được hạnh phúc rồi! Tại sao chúng ta khao khát cái điều đó?

Cho nên, chúng ta người tu trong thanh tịnh, chúng ta phải nuôi dưỡng cái chuyện cần thiết bây giờ; cái Thức Hồi Sinh vô cùng sống động trong ta, ta không nuôi dưỡng, lại nuôi dưỡng cái chuyện trần trược tạm bợ và không đi đến đâu! Ðể làm gì? Cho nên, những tuổi trẻ chưa nếm qua mùi đời, thấy đó là quý, thấy đó là hạnh phúc; nhưng mà bước vào rồi, thấy, "Hạnh phúc ở đâu? Tôi là người trên đường đi tìm hạnh phúc, mà chưa thấy hạnh phúc!" Cho nên, dứt khoát trần tâm, lo tu, niệm, cảm thấy có hạnh phúc! Hạnh phúc là giây phút thanh nhẹ thiêng liêng trong nội thức nội tâm của các bạn nó thể hiện, triền miên thức giác, cởi mở, không bị lệ thuộc; đó là giây phút hạnh phúc của các bạn.

Cho nên, trên đường đi, chúng ta phải dọn tâm. Mà muốn dọn tâm, phải có đường lối! Cho nên, kêu các bạn trì niệm Phật là xây dựng chấn động lực trong nội tâm và quy nhứt để khai mở Lục Thông nhiên hậu mới hưởng được cái Thanh Quang Ðiển Lành ở Bên Trên ân chiếu cho chúng ta từ giây, phút, khắc. Từ giờ các bạn vô Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, không phải là chư Phật không lưu ý: chính các bạn đã động chư Phật, thì chư Phật phải chiếu cho các bạn rồi, vì trước kia chư Phật đi bằng đường lối đó, ngày hôm nay các bạn đi bằng đừơng lối đó thì nó hòa hợp với chư Phật, chư Phật đâu có bỏ các bạn? Không bao giờ bỏ! Cho nên, chúng ta chỉ bước vào đó là chúng ta an rồi: chúng ta biết Soi Hồn, biết Pháp Luân, biết Thiền Ðịnh, là chúng ta sống trong cái tâm tư an lành của giới Niết Bàn!

(Tract #1- 13:56)

Chúng ta biết cộng đồng nhân sinh là do sự quản lý của Thượng Ðế, ân chiếu của Thượng Ðế. Chúng ta có thể xác này; thể xác này là đại diện của Thượng Ðế để tạo dựng những sự kích động và phản động nhồi quả cho tâm thức chúng ta tiến hóa. Chúng ta đã hiểu hai nơi: Ðời, Ðạo, rõ rệt: nơi làm việc về khối Trược tiến tới Thanh; nơi Thanh trở về cực Thanh; sống động vô cùng!

Cho nên, chúng ta phải học, phải trì chí thực hành; mà phải chiến thắng lấy nội chiến của nội tâm. Tất cả các bạn ngồi đây đều có chiến tranh: chiến tranh trong nội tâm các bạn nó liên hệ với Thiên Cơ, cả Càn Khôn Vũ Trụ: thời tiết thay đổi, tâm tánh thay đổi; câu nói động loạn, tâm tánh thay đổi; ý thức động loạn, tâm tánh thay đổi: nó liên hệ cả Càn Khôn Vũ Trụ; đó là Thiên Cơ, nằm trong tâm các bạn mà thôi! Cho nên, các bạn học một khóa cho tất cả mọi khóa ở tương lai, là tâm các bạn dọn sạch được, mở được mọi sự gút mắc trong nội tâm, thì các bạn hiểu tất cả và sống với tất cả; không còn sự Sanh, Tử hăm he nữa.

Cho nên, khi chúng ta biết được cái xác này không phải cái xác của ta - lấy gì chứng minh? Nếu xác này là xác của ta, ta chết, ta có cơ hội ôm nó đi chôn! Ta không có cơ hội ôm nó đi chôn! Thì của Ông Trời, "Của Thiên, trả Ðịa," ta không có cơ hội; nhưng mà ta có cơ hội đi với cái tâm thức của chính ta, đi với cái sự hiểu biết mà chúng ta đã thâu lượm được, trọn bao nhiêu kiếp; ôm lấy mà đi! Lấy gì chứng minh? Cho nên, ở thế gian này có người ra đời học được bác sĩ; người kia cũng người ta mà lại chỉ học thợ mộc thôi; có phải trình độ khác nhau không? Người kia, cũng người ta, mà chỉ làm nghề thợ may thôi! Thấy rõ chưa? Mỗi người một trình độ; ôm lấy cái trình độ, ôm lấy cái tâm thức đó mà tiến hóa. Còn ông bác sĩ đi làm thợ may, làm không được; ông thợ mộc đi làm bác sĩ, làm không được. Tại sao? Vì cái tâm thức người ta tới đó thôi; trình độ họ tới đó thôi. Cho nên, chứng minh các bạn đã ôm cái tâm thức xuống qủa địa cầu này, xây dựng cho quả địa cầu; thì mỗi người một nhiệm vụ và một công việc; có hết; nhưng mà lần lượt tiến hóa; không nên nôn nóng.

Khi chúng ta hiểu được, ta tìm được cái Pháp, tìm được nguyên căn của chính chúng ta: thể xác này cấu trúc bởi siêu nhiên mà có, và chúng ta đi tìm về con đường siêu nhiên để tự thức, để điều khiển cái khám lớn này nó đang giam Chủ Nhơn Ông, là giam ta đây! Cái gì giam? Lục Căn Lục Trần; nó lôi cuốn, nó kích động, nó phản động, nó làm cho chúng ta càng ngày càng động thêm, bước vào trong phạm vi nhỏ hẹp, so đo, và không có tiến nổi! Cho nên, chúng thấy rõ rồi, phân tách rõ rệt rồi, chỉ có tự đi mà thôi. Chủ Nhơn Ông làm; lục Căn Lục Trần phải học, phải ủng hộ, phải xây dựng. Chủ Nhơn Ông trì chí cương quyết tu luyện, thì chúng nó phải tuân theo!

Cho nên, ở đây, các bạn đã đọc qua Thiên Ðàng Du Ký, Ðịa Ngục Du Ký, Luân Hồi Du Ký, Nhân Gian Du Ký, Vấn Ðạo, đủ thứ. Bấy nhiêu này cũng đủ cho các bạn đi. Nhưng mà ngày hôm nay vỏn vẹn có cuốn “Kinh A Di Ðà,” là Chánh Kinh. Ðức Phật đã lưu lại cho chúng ta, và ông Ðỗ Thuần Hậu, người đi trước chúng ta, đã dặn dò từ câu mộc mạc để cho chúng ta hiểu rõ hơn thay vì dùng văn tự cao siêu. Nói về Nho Học, càng ngày chúng ta càng mất đường tu học về văn chương, cho nên phải nói sự mộc mạc thực tế, truyền Ðiển để tâm thức của mọi người hiểu, tự tháo gỡ, và tự tu tự tiến.

Cho nên, hôm nay bắt đầu mở Khóa, tôi xin nhắc lại cuốn “Kinh A Di Ðà,” trong đó tôi sẽ phân tách ra cho các bạn thấy rõ, và sau này các bạn nắm cuốn đó làm Phương Chỉ Nam để các ban tự tu, tự tiến. Ðây là một chìa khóa luôn luôn thường trực, và chư Phật luôn luôn tiếp Ðiển cho các bạn nếu các bạn ý thức và đọc được, thực hành được đúng theo ba pháp: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh; thì ăn khớp với cuốn Kinh A Di Ðà này; rồi các bạn sẽ diện kiến chư Phật, chư Tiên không có khó khăn! Một kỹ thuật trong tay các bạn, trong tủ các bạn, trong đầu nằm các bạn, mà chưa bao giờ chịu đọc! Cho nên, hôm nay chúng ta bắt đầu chúng ta đồng học cuốn "Kinh A Di Ðà."

Bây giờ, bây giờ chúng ta bắt đầu, để nghe qua những gì mà ông Ðỗ Thuần Hậu đã lưu lại cho chúng ta trong cái Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp. Các bạn đã đọc qua cuốn "Kinh A Di Ðà" do ông Nguyễn Xuân Liêm đã viết những câu về tiểu sử của Cụ Ðỗ Thuần Hậu:

"Cụ Ðỗ Thuần Hậu sanh năm 1887 tại Tỉnh Sa Ðéc, Quận Lái Vung; thân phụ của Cụ là ông Ðỗ Hạo Cừu, làm Phó Tổng An Thới trong thời kỳ Pháp Thuộc; thọ được 80 tuổi mới qua đời."

Ngài đã lưu lại những cái bản dịch về "Kinh A Di Ðà;" dùng Ðiển dịch văn; thế gian phải dùng văn, dịch lý; nhưng mà đây dùng Ðiển dịch văn; nó khác. Cho nên, các bạn đã tu về Ðiển, chúng ta dễ hiểu hơn; nếu dùng trí thức mà để hiểu, nó hơi khó khăn.

Phần I của "Kinh A Di Ðà Chú Giải," chúng ta đi thẳng vào Kinh; không có thì giờ nói về "Giới Thiệu;" các bạn đã đọc nhiều lắm rồi; cũng biết. Ðọc sơ đó thôi.

Giải thích “Kinh A Di Ðà” theo pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Của Phật.

"KINH" là hai dây thần kinh nơi bộ đầu ta, có liên quan đến việc luyện đạo theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Phật. Từ xưa đến nay, người thế gian cho rằng quyển kinh là quyển sách. Hiểu như vậy là chưa đúng nghĩa. Theo Pháp Lý, chữ "Kinh" là đường kinh mạch trong thân mình ta, chỉ rõ là nhiều gân mạch bao bọc bản thể ta để cho Khí Ðiển chạy châu lưu dắt khí huyết điều hòa khắp châu thân.

Hỏi, "Kinh," người ta ở trong chùa, người ta thấy cuốn kinh là phải để lên bàn thờ. Tại sao để ở trên bàn thờ, lại không liệng dưới đất? Bởi vì thần kinh liên hệ ở bộ đầu. "Kinh Mạch;" khi người ta biết cái "Kinh," cái tâm ta tự nhiên kính trọng; nói tới "Kinh" là kính trọng: nó chuyển ngay cái sợi gân, ngay trong cái Bá Hội ở trên bộ đầu này: cái Huyệt Kinh nó kích động liền. Cho nên, chúng ta tu, niệm Phật ngay trung tim bộ đầu; "Khai Kinh Kệ:" khai cái đường này, "Kinh" là cái đường; nó mở ra nó mới liên hệ cái thanh nhẹ ở bên trên. Cho nên, các bạn có người nó cảm thức rồi: cái tay tôi rờ cái đầu mà tại sao cái đầu bạn nó cục cựa? Có người đã cảm nhận cái đó! Chúng ta, cái đường kinh nó đi lên, liên hệ với Thiên Xích, đi về Trung Ðạo trung dung tiến hóa.

Cho nên, cái Khí Ðiển chạy châu lưu trong cơ thể chúng ta, chúng ta phải có ấm chúng ta mới có sự sống; nếu mà trong cơ tạng chúng ta lạnh, thì không có bao giờ sống được. Có ấm, đó là có điển. Mà cái điển nó đi đâu? Nó vun bồi lên trên mặt các bạn. Cho nên, các bạn đói bụng, trước khi đói bụng mặt nó xanh rồi, mà uống nước lạnh vô một hồi, thấy nó run. Thử đi; biết rồi. Nhưng mà ngày nay chúng ta ăn cơm rồi, ăn cơm qua nấu nướng rồi, nó ấm; mặt của chúng ta hồng. Phải cái Ðiển Kinh khai triển không? Nó vun bồi, nó đi lên. Cái Luật "Sanh Sanh, Hóa Hóa:" ăn cơm vô, nó biến sanh Thủy; Thuỷ biến sanh Khí; Khí biến sanh Sắc; Sắc huờn Hư: trở về bên trên. Hai đường kinh mạch tiến hóa vô cùng, hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ ở bên trên: nó chạy châu thân chúng ta ấm áp, thì trung tim bộ đầu chúng ta lại cảm thấy thanh nhẹ; sức quân bình tự đạt; lúc đó nó ăn no rồi mới đứng dậy đi. Bỏ đói, nằm đó, nó la liệt nằm đó; mà lúc mà ăn no rồi, nó đứng dậy đi; nó quân bình nó mới đi được; chiếc máy bay cũng vậy, quân bình nó mới bay được.

"HUYẾT" là một chất lỏng; trong chất lỏng ấy có Ðiển lộn vào, tung hơi nóng ra. Bản thể con người, nhờ khí điển ấy mà hô hấp, hơi thở ra vào nơi trần thế. Trần thế có Thán khí hợp lại sanh Dưỡng khí để cho chúng ta sống hằng ngày. Nhờ dưỡng khí tiếp cho Ngũ Tạng để làm việc thôi thúc cho các nhu cầu của bản thể: ăn, ngủ, và bài tiết, v.v... Người có sức khỏe là nhờ bộ máy Ngũ Tạng có năng lực; Ngũ tạng làm việc chuyển cho Ðiển sai khiến bộ phận tiêu hóa, Đông Y gọi là "Kinh Mạch." Bởi thế cho nên bản thể con người làm việc luôn luôn, từ thì giờ, phút, khắc, không bê trễ, để làm cho người có sức lực.

Ðó. Cho nên, chúng ta thấy rõ rằng mới nói về cái Huyết không hà, chúng ta đã thấy cái bệnh trong mình rồi: cái Huyết của chúng ta phải chuyển chạy châu thân chúng ta; mà nó qua Ngũ Tạng: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, rồi nó làm việc không ngừng nghỉ. Mà trong đó có Thanh, có Trược. Cho nên, nó tạo ra một cái sức lực vận chuyển, tiếp tế đầy đủ hết, cũng như một cái cơ cấu tại thế gian.

Cho nên, cũng có thể gọi là "Kinh là giềng mối nhà Ðạo."

Ðó. Không nhờ cái đó thì cái hồn không có thức, và không hiểu ở cái cõi Hư Không còn một cảnh nữa. Cho nên, nhiều khi chúng ta tu thiền, nhắm mắt, chúng ta thấy cảnh. À; người được tu thanh nhẹ, nhắm mắt, thấy ta bước ra! Nó nhờ cái giềng mối đó ta làm bàn đạp chúng ta mới đi được.

Chữ "GIỀNG" là một sơi dây chuyền thừa tiếp luân chuyển cho khí huyết châu lưu bản thể, cùng để xây dựng an dưỡng tinh thần trí não của ta. Thường khi người ta gọi là "Kinh Kệ." "Kệ" là từ mỗi kẹt hóc nào cũng có khí huyết, kinh mạch chuyển đều từ lỗ chân lông bản thể của con người. Khí Ðiển ấy "Tuần Dương Tế Sát," từ ngoài da đến thịt xương máu. Trong bản thể con người có 3 chất huyết là: huyết trong trắng, huyết đỏ tươi, huyết đỏ bầm; nó phải luân phiên tuần phong nghiêm ngặt ranh giới ngoài da để chống vi trùng ngoại xâm cùng vi trùng thán khí xâm nhập Ngũ Tạng Lục Phủ bản thể ta. Chúng ta cũng gọi là "Vi trùng thương hàn sốt rét,"nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng sở dĩ vi trùng ngoại xâm mà nhập vào bản thể ta được là vì kẻ tuần tiễu trong mình ta bị hớ hỏng.

Ðó. Cái Kinh Lực Ðiển, cái lực mà chuyển chạy của cái máu huyết nó không có điều hòa, cũng như lính mà không có làm việc, không có hành quân; hớ hỏng.

Do đó mới có sanh bệnh. Trong lúc ngoại xâm uy hiếp bản thể ta thì ta nghe rần rần trong mình, rùng mình rởn ốc, và kinh mạch ta thiếu kém do sự ăn uống không đủ sức, đem lương thảo vào chậm trễ, không bổ túc đầy đủ cho các binh lính nơi lỗ chân lông. Lỗ chân lông là dân sự; binh lính nếu thiếu kém làm việc thì binh giặc ngoại xâm nó lấn vào bản thể, hiếp đáp ta, sanh ra bệnh hoạn. Lúc ấy dây thần kinh cũng bất lực, yếu lực lượng, nên không thể tiếp Ðiển Thiên Không được. Ðiển Thiên Không ở trong bầu không khí; bầu không khí có Dưỡng khí. Cho nên, lúc chúng ta công phu luyện đạo chúng ta không thể tiếp xúc với Ðiển Thiên Không được là vì Ðiển của chúng ta không mạnh. Nếu chúng ta hấp thụ được Dưỡng khí thì Ðiển của chúng ta trở nên mạnh, sẽ tiếp xúc với Ðiển Thiên Không dễ dàng. Chừng ấy, có lo chi là không Mâu Ni Châu hay Xá Lợi! Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi là một cục lửa tròn, có nhiều mầu sắc, bay vơ vẩn trước mặt ta lúc ta công phu luyện đạo. Nếu ta dầy công tu hành thì cục Ngọc Mâu Ni Châu ấy biến hóa thành lớn lao, sáng tỏ, bay thẳng trực chỉ lên Thiên Ðàng, không còn vơ vẩn như trước kia, làm cho trí óc ta càng ngày càng mở mang, thông minh trí tuệ; bản thể ta thêm sức lực tráng kiện. Có lo chi là bệnh hoạn chết yểu! Pháp Lý chúng ta gọi là “Kinh” là thế.

(Tract #2 - 14:45)

Khi mà chúng ta tu, chúng ta phải hiểu cái Nguyên Lý. Nguyên lý của “Kinh kệ” khai thông từ cơ tạng của chúng ta chuyển chạy trong máu huyết cũng như một cuộc hành quân tại thế. Chúng ta xuống thế gian đây, đang chủ trị một Tiểu Thiên Ðiạ đây, là một quốc gia. Mà quốc gia, chúng ta không biết lo cho nó; chúng ta chỉ lo chanh chấp thôi, lo hưởng thụ; lo hơn, hưởng thụ, cái hưởng thụ, kêu bằng, bằng lý thuyết, mà bỏ cái thể xác, sự tráng kiện của thể xác; thì cũng thất bại.

Cho nên, người tu mà không hành đúng: người ta chỉ mình làm Soi Hồn, làm Pháp Luân, mà mình không chịu làm, nói, "Tui ngồi như vầy, tôi thấy Phật, là đủ rồi; tôi không có làm!" Cái đó là càng ngày cái kho lương thực của chúng ta nó càng thiếu vì binh lính ở trong đó phải sử dụng; phải phát lương, mỗi ngày các bạn phải phát lương; nếu không có lương thực cho chúng nó thì nó sanh bệnh. Cho nên, khi các bạn hiểu được gái trị của chữ "Kinh Kệ" rồi, các bạn thấy rằng chính ta đã làm cho ta bệnh. Chúng ta hao phí rất nhiều: nói năng hơn thua, đã hao phí; tham dục, đã hao phí; làm ngưng trệ sự vận hành nội lực. Cho nên, càng ngày chúng ta càng thiếu kém. Cho nên, chúng ta người tu phải biết rõ "Kinh" là cái đường đi; "Kinh" là khai mở cả triệu triệu cây số trong Tiểu Thiên Ðịa của chúng ta; mà chúng ta không biết cái nguyên ý, cái chìa khóa mạch lạc để cho sự tiến hóa của Kinh Kệ trong nội tâm nội thức có cơ hội tiến đều, nhịp nhàng, du dương trong nội thức, thì chúng ta là một bệnh nhân tại thế.

Cho nên, các bạn nghe qua những sự phân tách này, các bạn dòm lại các bạn, là các bạn đang bệnh: chưa mở được là đang bệnh. Phải nhìn nhận cái này! Nhìn nhận cái này rồi, chúng ta mới mượn cái kỹ thuật của Pháp Lý Vô Vi mà để trị bệnh cho chính chúng ta: đừng cho nó tắc nghẽn nữa; phải khai thông nó vì chúng ta đã sống trong biển yêu của Thượng Ðế đầy đủ ban bố cho chúng ta; chúng ta có quyền hít thở, tận dụng khả năng của chính mình mà để hòa tan trong cái cơ giới sống động bất diệt của Thượng Ðế, thì các bạn thấy cái Pháp Soi Hồn nó có giá trị rồi: làm cho khối thần kinh của Trung Ương, hai mối phải tương hội nó mới nhóe lửa ra; các bạn nhắm con mắt mới thấy ánh sang; đó là cái Nguyên Ðiển! Mà cái Nguyên Ðiển để mở đường cho ai? Nguyên Ðiển mở đường cho Nguyên Khí, Nguyên Linh tiến hóa. Cho nên, Nguyên Linh xuất ra, đứng trên đám mây đó là đi. Cho nên, cái Pháp Soi hồn của chúng ta kỳ diệu vô cùng! Các bạn tu, lo, chịu khổ một chút; nghe lời tôi, các bạn làm; càng ngày nó càng trì nặng ở đây là cái luồng điển lửa các bạn đầy đủ lực lượng rồi; nó sẽ bực ra ánh sáng. Mà ngay đây nó đầy đủ lực lượng thì nó trụ ngay trên trung tim bộ đầu; nó sẽ nổ cái "Bùm!" Nó nổ lớn tiếng; nổ như bom nổ vậy đó. Thì các bạn thấy sáng cả Càn Khôn Vũ Trụ! Mà không ngờ; không ngờ các bạn làm cái Pháp này mà các bạn có thể thấy được như vậy. Phải do một sự kỳ công!

Mà các bạn nào mới tu đây, là, kêu bằng "Trị bịnh." Tại sao bệnh? Mất trật tự nó bệnh. "Bây giờ tôi lập lại trật tự, tôi không còn bệnh!" Mà khi lập lại trật tự thì phải có trở ngại: "Tôi dẹp con đường cũ, tôi về con đường mới, thế nào cũng phải động! Ðường làng, mở xa lộ, thì biết bao nhiêu người biểu tình! Nhưng mà rồi có xa lộ rồi, mọi người thích!" Chúng ta phải làm, phải cố gắng; chớ cái giải thông kinh mạch cho khối óc là cái Pháp Soi Hồn.

Cho nên, trong cái tuần tự kinh kệ, các bạn học cái Pháp này là trị bịnh; thực hành cái pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh là đang trị bịnh các bạn mà thôi. Mà còn hằn học, nửa chừng rồi bỏ, này kia kia nọ, rồi bệnh nó tái phát! Bởi vì từ hồi nào tới giờ sự vận chuyển nó đưa từ cái miệng đem vô, thì trong này nó có cái nội lực để giải tỏa; mà nội lực không thực hành, thì làm sao nó lậi tiến hóa nổi? Tự nhiên nó phải bịnh à. "Tại sao tôi tu Pháp Lý mà tôi bệnh?” “Tôi đâu có làm! Cái Soi Hồn, tôi cũng làm biếng, mà Pháp Luân cũng làm biếng; Thiền Ðịnh cũng làm biếng nữa; rồi ngủ một giấc thôi, rồi nói, ‘Tôi tu mười năm rồi!’ Ðúng mười năm như vậy thì con người phải trẻ luôn luôn, không có già; ăn uống khai vị; lúc nào cũng vui tươi; mới là đúng! Nhiều người cứ nói, "Tôi tu mười năm rồi; tôi theo Ông Tám mười năm rồi!" Ông Tám đâu có dẫn mình, mà nói "Theo Ông Tám mười năm"? Mình tự đi, mà không chịu đi! Cho nên, nhiều người nói bậy bạ lắm; không chịu thục hành.

Bây giờ, các bạn ở trong khóa này, chúng ta là huynh đệ trong một nhà, chúng ta phải nói thật: chúng ta nhìn nhận sự lười biếng; thực hành, mở, khai triển trong cái Khoa Học Huyền Bí mới mẻ trong quả địa cầu, trong Càn Khôn Vũ Trụ đã dành sẵn cái quyền đó cho chúng ta hưởng; chúng ta phải tận hưởng; không nên bỏ nữa! Cái của đó là cái của vô cùng. Bây giờ các bạn nói, "Chu choa, tôi bây giờ phải đi làm ăn, chớ không làm ăn, không có tiền. Nghe lời Ông Tám, thì chết cha! Nói cái điệu đó không được!" Ừ; mà vừa đi làm đi, rồi vừa thực hành; các bạn thấy yêu đời; các bạn có sức khỏe rồi; các bạn tới sở, các bạn muốn chia sức khỏe cho người khác rồi; các bạn thanh tịnh, các bạn thấy người khác đau khổ, các bạn muốn độ họ rồi! Các bạn có thừa chưa? Thấy các bạn mạnh chưa? Muốn ban ơn cho người khác rồi! Cho nên, lợi cho bạn là lợi cho tất cả. “Các bạn thành đạo, là mọi người sẽ thành đạo” là vậy. "Làm một việc cho tất cả mọi việc" là vậy.

Cho nên, chúng ta thấy rõ, nội cái chữ "Kinh" thôi, mà Ngài cắt nghĩa như vậy, để chúng ta ý thức cái bệnh nan y mà mình đã tạo, mình đã bỏ phế hai sợi thần kinh đó, không cho nó giao cảm và không cho nó tiến hóa là chính mình đã tự tắt nghẽn lấy chính mình mà thôi. Cho nên, mình "Sanh bệnh" là vậy: cái tâm tánh nó không có điều hòa; ăn nói vô chừng, vô mực; nguyện với Trời, Phật, cũng hành không đến; không chịu làm; không có trung tín! Lời nói mình với hành động không có đi đôi, thì làm sao nó mở? Cho nên, trị bệnh cũng vậy: chúng ta đi trị bệnh ông bác sĩ nào cũng vậy; cũng như cuộc hành quân à: bữa nay ổng cho mớ thuốc hòa; mai nữa ổng kích động; mốt này là ổng cho hòa; rồi bữa sau ổng xả hết: trị bệnh một cách như cuộc hành quân: chiếm cho kỳ được và trở về tự chủ. Còn cái này của chúng ta cũng vậy. Cho nên,

Cho nên A Di Đà; chữ “A”: Trong bài sấm Pháp Lý có nói như vầy: "A, Nhâm Quý gồm thâu nơi thận" thì nghe ra, rộng nghĩa quá, khó thấu đáo được; vậy xin giải thích thêm: "A" là cái hơi đưa lên, do nơi trong hai trái cật hợp nhứt, thì chất nóng và chất lạnh hợp lại, hóa thành thứ nước nóng. Hơi ấy xung lên bộ đầu hóa thành chất Ðiển; chất Ðiển là hơi nóng, gọi là "Ðiển," để tiếp xúc, "Trí hóa ta," là cho ta được thông minh, tráng kiện, tiếp viện cho Thần Hồn, gọi là "Chủ Nhơn Ông" hóa thành Như Lai cùng La Hán, mới chứng phẩm Tiên Gia.

Nội chữ "A, Nhâm Quý gồm thâu nơi Thận" là thuộc về Thủy; "Thủy, Ðiển tương giao." Ngày nay các bạn hiểu điển thì tôi mới cắt nghĩa về điển, "Thủy, điển tương giao:" Có nước mới có điển: mình lấy cái dây điện bỏ ở dưới nước đó, thì mình rờ dưới nước, thì cái tay mình cũng bị giựt; bởi hai cái nó tương giao. Cho nên, khi mà chúng ta làm Pháp Luân, cái trái cật nó hợp nhứt, hai luồng điển nó tung lên cái xương sống, nó xung lên bộ đầu, thành chất điển, làm ấm bộ đầu; rồi từ đó nó mới "Thanh thừa Thanh," nó mới cảm thấy lạnh, cảm thấy hòa, mát, chớ không phải lạnh; ngay trung tim bộ đầu; mới gọi là "Ðiển." À. Thì nó hóa ra ta, rồi cái điển mà nó thừa tiếp với Thanh Ðiển đó, nó hiện hình cũng như người thế gian; có gì đâu? Rồi, lúc đó là cái thần hồn là Chủ Nhân Ông, Nguyên Lai Bản Tánh mình: từ hồi trước mình xuống như thế nào, mình về như vậy: mình hòa tan vớ các giới: mới cùng La Hán, mà mới chứng phẩm Tiên Gia. Chúng ta người thế gian mà không phải ở thế gian! Mình đi được mà, mình thấy mình đâu có phải ở thế gian đâu! Mà nhờ cái gì? Nhờ cái "Thủy, Ðiển tương giao" mình mượn cái trớn đó mà mình đi. Cho nên, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển, làm nó rung lên bộ đầu, rồi một chặp cái nó mát, phất phất ngay trung tim ở đây. À. Những người tu lâu, vừa tưởng là nó tới rồi! Như Bà Mười ngồi đó, vừa tưởng cái, nó dính ở đó, nó rút chỗ đó rồi, cái điển nó rút rồi; Con Hòa, bây giờ nó đang ngồi đó, nó tưởng cái, nó rút rồi, nó rút ngay trên bộ đầu rồi! Vì sao? Mình phải lên đó mình mới hoà tan ở chỗ đó. Cho nên, mình học, mình "Cư Trần, nhiễm trần," bị cái Hồng Trần nó hút: cái máu nó hút mình; nó hút cái Thanh điển mình; nó bắt lo âu, nó bắt nào tình dục, nó bắt này kia, kia nọ! Do nơi tim thôi! Mà bây giờ chúng ta tập trung lên trung tim bộ đầu thì nó hòa với cả Càn Khôn Vũ Trụ. Cái tâm hòa bình, nó mở vô cùng; nó không còn chấp nữa; nó hòa tan với Càn Khôn Vũ Trụ nó mới "Học từ bi và thực hiện từ bi!" Lớn rộng rồi, không còn cái tim nhỏ nữa! Cho nên, nhiều người nghe nổ mấy tiếng rồi thì cái đầu thấy nó càng ngày càng lớn, mà càng nhẹ nhàng; thấy ai cũng thương, muốn cứu độ người ta, không muốn haị ai hết; không dám ghét một người nào: hễ ghét là nó động; nó động là nó mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); mà giận một cái,b nó cũng mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); sợ giận, sợ ghét lắm! Mà thực hiện cái thương yêu thì nó khác, nó cởi mở.

Chữ "DI": Trong sấm Pháp Lý có câu "Di giữ bền chặt Ba Báu Linh." Nghe ra cũng rộng quá, không hiểu rõ được, nên phải giải nghĩa thêm cho rành rẽ hơn. Ba báu linh là Tinh, Khí, Thần; thường trong bản thể con người, ai ai cũng có. Những người biết luyện đạo đúng phép, Tinh, Khí, Thần đầy đủ, sáng suốt làm cho trí não ta được minh mẫn, thần hồn ta linh hoạt. Trong lúc chúng ta luyện đạo thì động đến Tinh, Khí, Thần tiếp viện cho thần hồn phát huệ, hiểu biết quá khứ vị lai: đó là Chủ Nhân Ông lên phẩm chức học trò Phật, gọi là "Tiên Gia."

Các bạn lấy cái gì chứng minh giá trị của Tinh, Khí, Thần? Mỗi ngày các bạn ăn uống đầy đủ, ngủ đủ tám tiếng, khỏe mạnh; ban đêm không động loạn, không cờ bạc, không dâm dục; sáng các bạn dậy, khỏe mạnh. Hỏi, giá trị của Tinh, Khí, Thần nó làm cho các bạn quân bình không? Sáng suốt, nói về đời, nói về thể xác thôi. Còn nói về phần hồn, chúng ta dùng cái pháp Soi Hồn mà làm cho Tinh, Khí, Thần chúng ta trụ, thì chúng ta cảm thấy cái Thanh Ðiển dồi dào. Mà các bạn có vợ, có chồng, đêm nào mà các bạn tham gia vô tình dục thì sáng nó mất hết: đêm đó các bạn thiền nó không có giá trị như đêm trước. Các bạn đã nhìn nhận điều này, có sự thật như vậy, vì cái Tinh, Khí, Thần hao, nó không trụ, cũng như nhà đèn không có điện. Tinh, Khí, Thần của người tu là quan trọng: những vị tu, sư ở trong chùa, tại sao Ngài chết, đốt ra có xá lợi? Vì chất Tinh Ngài trụ. Ðốt ra, như Chư Phật chết đó, đốt ra bao nhiêu hột xá lợi. Nhờ cái chất Tinh nó trụ, đốt không cháy, không tiêu. Mà chúng ta tu, chúng ta lại hoang phí; ký tên đăng ký nói "Tu," mà không biết giữ cái của báu của Trời, Trời Ðất đã cấu trúc và cho chúng ta một nhiên liệu xài hoài không hết? Mà không biết! Cho nên, các bạn thức tỉnh lên đi, và thấy rõ cái này là cái quan trọng: giữ cái Tinh, Khí, Thần để vượt qua những cái bệnh nan y tại thế, chúng ta mới "Cứu đời" được.

Cho nên, những người nào mà giữ được Tinh, Khí, Thần, ban đêm làm Pháp Luân Thường Chuyển, nước miếng ngọt như đường phèn: Tinh, Khí, Thần đầy đủ. Mà nước miếng lạt, hôi, đó là Tinh, Khí, Thần phân tán. Ở trong cơ tạng chúng ta đã chứng minh như vậy; chúng ta đã thực hành và thâu được kinh nghiệm như vậy. Cho nên, chúng ta tu, quan trọng là tập trung Tinh, Khí, Thần. Chúng ta Soi Hồn cũng là tập trung Tinh, Khí, Thần; làm Pháp Luân Thường Chuyển là Tam Giới Quy Nhứt: Tinh, Khí, Thần phải trụ; còn cái thừa thãi đó, nó phải đưa ra đại tiện và tiểu tiện, lỗ chân lông;

(Tract #3 - 15:01)

Nó không có mất sự điều hòa; luôn luôn con người trẻ trung. Cho nên, tôi mỗi năm mỗi đến đây, các bạn nhìn thấy tôi, thấy tôi cũng như mọi năm, không có gìa gì mấy; có phải không? À. Nó như vậy đó là nhờ cái gì? Nhờ biết giữ sức khỏe cho chính mình, và biết giữ cái hòa với cả Tam Giới, thành con người khó suy sụp; làm việc nhiều, nhưng mà nó có thừa thãi tôi mới làm việc; khi nó thiếu thì tôi cũng chả làm gì được; bởi vì tôi giữ cái đó, còn dư thừa thì tôi làm việc, tôi cứu độ chúng sanh; còn phần nào của tôi đang sử dụng thì nó phải cung cấp đầy đủ cho tôi. Cho nên, các bạn tu cái Pháp này nó lợi lộc vô cùng: đời lẫn đạo, các bạn luôn luôn giữ minh mẫn và không bị gây tiêu hao.

Chữ "ÐÀ:" Trong sấm Pháp Lý có câu, "ÐÀ, ấy sắc vàng bao trùm khắp cả." "Sắc vàng trùm khắp cả" là một thứ điển trong bản thể ta, khi ta luyện, phát ra ánh sáng chói tung ra, gọi là "Aura." Ánh sáng ấy gom chung quanh bộ dầu ta; lúc ta công phu mắt ta nhắm kín mà vẫn thấy điển ấy có hào quang chói lọi. Nếu chúng ta cố gắng tu luyện lâu bền mà có hào quang hằng đêm, lo chi mà không thành Phật!

Trước kia các bạn chưa tu, các bạn nhắm mắt, tối hù; và thấy nó nặng trịch, và không muốn nhắm mắt; muốn mở mắt; vì sự lo âu của ngoại cảnh mà nó muốn mở mắt. Mà ngày nay các bạn tu rồi, các bạn thích nhắm mắt: cái đen, cái tối đó đó nó lớn rộng lần lần; cho nên các bạn thích ngồi nhắm mắt, mà các bạn thấy ở trong phạm vi rộng, chớ không phải ở trong phạm vi hẹp. Soi Hồn đúng mức rồi là thấy nó ở trong phạm vi rộng. Rồi từ đó nó trụ Tinh, Khí, Thần; phải giữ Tinh, Khí,Thần đầy đủ, mới có ánh sang. Nó rõ rệt! Mà hồi trước chúng ta, nghĩa là, chưa tu, kêu, “Ngồi nhắm mắt,” nó bắt mở mắt; nó sợ mất, sợ người ta phá, sợ người ta khinh, sợ người ta chửi mình, cứ mở mắt! Bây giờ, mình nhắm mắt là nhắm mắt; tự nhiên nó thấy ánh sáng. Rồi những người mới tu mà Soi Hồn, trụ đươc rồi, dòm cái bóng đèn này, nhắm con mắt, thì thấy cái bóng đèn rõ ràng: thu hút liền, phóng ra liền, sáng trưng ngay lúc các bạn nhắm mắt! Nó khác hơn người thường! Rồi tương lai các bạn nhắm mắt thấy cái ánh sáng của Càn Khôn Vũ Trụ; đó mới là thật sáng! Còn cái sáng của mắt phàm này là gián tiếp, không phải trực tiếp.

Ðó. Cho nên, chúng ta hiểu, "Mở mắt phàm, thấy gián tiếp; mất công!" Cho nên, nhiều người tu Pháp Lý nói, "Nhắm mắt cho rồi!” Ðể nó thấy cái trực tiếp. Khi mà các bạn thấy được cái ánh sáng trực tiếp rồi, cái tâm các bạn nó thấy thơ thới hằng ngày; nó sung sướng vô cùng; vui mà không biết vui cái gì; gia đình nói, "Thằng cha đó nó khùng rồi, mà sao nó vui?" Nó thấy, thấy chút sáng đó, nó sung sướng lắm; nó bỏ hết, tất cả cái gì, nó bỏ hết; nó thấy cái tâm nó thơ thới; bởi vì nó thấy ánh sáng thật, mà chính nó đã tìm lại, hồi xuân trong tâm thức của nó; nó mừng vô cùng! Cho nên, chúng ta người tu, tập trung Tinh, Khí, Thần, thì cái bộ đầu của các bạn phát quang; thiêng liêng nó dòm thấy cái đầu các bạn có hào quang; ông lên bà xuống thấy thích, thấy, "Những vị này mới là người tu!" Cái đầu của nó phát quang, không ngừng nghỉ, ở trên này tiến triển luôn luôn. Cái đó kêu bằng "Hào quang."

Cho nên, sự liên hệ không ngừng nghỉ, cái đường đi về nguồn cội là cái đường rút đi lên; cái đường tranh đấu là cái đường lôi cuống. Các bạn bây giờ giận hờn, gây lộn đó, các bạn thấy không; kéo xuống! Kỳ thị một ai, cũng kéo xuống; khinh thị một ai, các bạn cũng bị kéo xuống. Mà các bạn cứ hướng thượng đi lên, tự giải, ăn năn hôí cải sám hối tâm của mình, thì nó chỉ mở đi lên mà thôi! Thì cái đó nó càng ngày càng dồi dào; gọi là gì? "Hào Quang." Mà cái tâm của người phàm, những người làm phước, người ta hiền, người ta đâu có tu? Người ta hiền, Anh tới xin gì, người ta cần giúp, Anh cần gì là người ta giúp; ai cần gì, người ta giúp, người ta năn nỉ muốn giup. Ðó cũng là cái phước, mà caí hào quang độ tha tại thế: cái tâm họ hiền vô cùng; cái gì họ cũng giúp; Anh cần cái gì là họ giúp; tự nhiên Anh phải cảm động. Cái đó, cũng sức mạnh hướng thiện, thiện nghiệp; những người mang được thiện nghiệp, họ chỉ làm những cái giúp đỡ người ta thôi; cái đó, họ cũng có hào quang xâm chiếm được tư tưởng của những người trần trược, và cởi mở cho những người trần trược. Còn người tu của chúng ta, khác: thực hành, giải tỏa cái phần trược, mà lưu thanh, thì bộ đầu phải sáng quang! Ðó mới thật sự là hào quang.

Chữ "PHẬT”: Trong sấm Pháp Lý có câu, "PHẬT, hay thanh tịnh ở nơi mình. " Ông Phật là người xưa kia cũng là ở dương trần như ta, nhưng có tâm tu luyện theo Pháp Lý Vô Vi do nơi sáu chữ “Nam, Mô, A, Di, Ðà, Phật,” mới có đủ kinh quyền, hiểu khắp chư thiên. Người ấy truyền bá Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí để hoằng hóa chúng sanh, gọi là "Ông Phật." Ông Phật có hào quang dị thường hơn người. Chữ Hán viết, "Nhơn đứng bằng;” Nhơn đứng, là người sanh ra, "Nhân đứng bằng;" là nhân đứng bằng. Hóa hóa tại thế gian; còn chự "Phật," là gió điển lửa, gọi là "Hào Quang." Người có hào quang gọi là "Phật," không chức tước. Người học theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Phật tu luyện đúng mức thì trở nên thanh tịnh, không còn bị Thập Tam Ma khuấy nhiễu nữa.

là mười ba con ma nó khuấy nhiễu nữa.

Hoặc là được xuất hồn về cõi thanh tịnh bái yết Phật; nên mới nói là, "Phật hay thanh tịnh nơi mình."

Cho nên, cái chữ "Phật", phải hiểu! Người thế gian, bước vào nói, "Tu Phật!" À. Thấy ông Phật, sợ; vì nó đặt ông Phật ở trên bàn, thấy, ngó sợ quá! Lớn quá mà! Ông Phật lớn quá, thấy hết hồn! Hào quang bằng điện, mở đèn, thấy, hết hồn. Không có gì hết! Những cái đó là vật chất; nó thua tâm linh. Nhiều người không ý thức rõ ràng cái điều đó: vô, thấy, sợ quá! Lạy ông Phật mà sợ ông Phật! Mà biết ông Phật là từ bi, thương người, mà lại sợ ông Phật! Thì té ra mình càng sợ thì mình ôm, mình giữ cái trược; không lưu thanh. Mình không sợ ông Phật, mình mới gần ông Phật, mình hướng về ông Phật; ông Phật thanh, thì ông Phật mới giải cho mình! Cho nên, người đời họ ngược: họ đi chùa, tu hoài, họ sợ không à; họ không chịu tới với ông Phật; thành ra tu hoài không có gặp ông Thích Ca; chỉ gặp cái hình thôi, chớ không có gặp ông Thích Ca.

Còn cái đám Vô Vi nó khác; nó hiểu nguyên lý của Phật: Thanh Khí Ðiển trên trời đưa xuống, xương sống đứng hấp thụ. Các bạn, phải thanh khí điển đang đưa xuống không? Xương sống đứng, đang hấp thụ không? Chữ này, chữ "Phất," là gió đó; thấy không? Nhẹ, vô danh mà! Một luồng điển Âm và một luồng điển Dương, hít vô và thở ra. Mà người nào luôn chỉ hướng ngoại và không có trở về với căn bản mình; rồi làm sao biết Phật tâm Phật tánh ở chỗ nào? "Nhơn nhân giai thành Phật" mà; ông Phật ổng nói “Ai cũng thành Phật; tụi bây là Phật mà! Tại sao không chịu trở về?” Ổng nói chúng ta, "Tụi bây là Phật, ‘Nhơn nhân giai thành Phật’ mà! Cũng hít vô, thở ra, mà! Thanh điển ở trên xuống này; xương sống đứng hấp thụ; phải không? Cái xác của mình nó phải đi một vòng cung vầy không? Rồi một cái hơi hít vô và một hơi thở ra; ông nào không có, mà bà nào lại không?

Chư Phật ở đây, mà chư Phật không chịu về, trở về vị trí của chư Phật, là thành gi? Thành con ma; con ma động loạn, hướng ngoại, tranh chấp, tỵ hiềm, cống cao ngạo mạn, làm điều vô ích, không biết mình là ai. Khổ! Khổ rồi, ai nói cái gì cũng ôm hết; ôm thét, thành nghiệp! "Nữa mày lớn rồi, mày không lấy chồng, sau này già, rồi ai nuôi?" (Ðức Thầy cười) Sợ khổ quá, "Thôi, tôi cưới; gả đi!" Ðó. Ðẻ cho một đống! Không có phải! "Ðể rồi con tôi nó nuôi tôi." Ðâu? Bây giờ nó bỏ đi hết rồi; chết cũng ai chôn chớ nó đâu có chôn? Thấy không? Mấy ông thợ mả chôn, chớ nó đâu có chon? "Con tôi không có chôn tôi." Nhưng mà cứ hy vọng, "Lớn, con tôi nó chôn tôi." Không có! Toàn là đi chuyện sai lầm không hà! Không biết cái chủ yếu, thành ra bị lạc; rồi mới lạc vô trong cái cảnh Luân Hồi. Cho nên, ở thế gian người càng ngày càng đông là bị lạc. Mà ai lạc? Chính mình lạc, thì mình phải chịu: mình muốn, là mình phải chịu à! Cho nên, nhiều cô, lấy chồng rồi cái, đẻ con, nói, "Tại Ông đó, tôi mới đẻ con!" Không phải! Rốt cuộc tại mình; tại mình muốn ổng á; mình đẻ, mình mới gánh; phải không? Rồi cái ông kia, đổ thừa, "Tại Bà đó; tại Bà liếc tôi; chớ Bà không liếc tôi, tôi đâu có theo Bà!" Nhưng mà “Theo, rồi bây giờ tôi phải đi cầy!” Phải nuôi!

Nhưng mà cái cơ cấu của ông Trời rất hay, rất tinh vi: Ổng xây dựng cái dũng chí; Ổng thương, "Con có sai lầm, nhưng mà Cha cũng cho Con một cái khí giới để trở về với Cha:" khi mình gánh vác rồi mình mới thấy, "Cha, cái chuyện làm cha là quan trọng!" Rồi ta mới ra làm xã hội, rồi này kia, trật tự thôi! Làm ông cha, biết ông cha già phải chết, nhưng mà ông cha phải làm những cái gì trước khi ông cha đi. Rồi ông cha phải tưởng tới ông Trời: còn một ông cha nữa; còn một cảnh đời đời bất diệt! Cho nên, "Mình may mắn: mình nhẩy xuống đống bùn; mình có vợ, có con, như nhẩy xuống một đống bùn! Bây giờ mình biết đạo, mình biết đường về rồi; không sợ nữa." Thấy không? Các bạn may mắn lắm!

Tôi cũng vậy; tôi là người may mắn trước. Chớ tôi, hồi trước tôi thấy là cô gái là thiên đàng; tôi thấy cô gái là hạnh phúc; cô gái là đời sống của tôi. Nhưng mà từ ngày tôi tu rồi, tôi thấy, "Không có!" Tôi thấy cô gái là khổ; nếu tôi quen một cô thì tôi phải chia sớt một cái khổ của cô đó. "Tôi thấy mọi người đều khổ. Bây giờ làm sao? Cương quyết tu, tôi mới tìm ra, khám phá ra cái con đường, sự sống trong lẽ sống mà chính mình phải tự chủ. “Tu đề giải thoát cho chính mình; không ai cứu mình được; chính mình là cái người tự cứu!” Cho nên, cái tu ngày hôm nay về với các bạn đây là quý lắm; quý vô cùng.Trong lúc tôi đau khổ, tôi tìm đời và tôi không hiểu đời, tôi ôm hai chữ "Hạnh Phúc," tìm hoài chẳng ra hạnh phúc; rồi tôi muốn chết đi thôi, tôi mới ngộ được cái Pháp này.

Các bạn đâu có phải đi tới cái tình trạng như tôi đâu? Mà được có cái Pháp này rồi, chúng ta bàn bạc sâu về cái chiều tiến hóa của Chư Phật, thì chúng ta lại có cơ hội sử dụng cái quyền năng sẵn có của chính mình, là tha thứ và thương yêu. Hồi trước khi mình làm từ bi, mình nói, "Chỉ ông Phật mới làm được, chớ tôi sức mấy mà làm! Ông đừng có bầy cái đó; có tội!" Phải không? Bây giờ mình phải cần làm chuyện từ bi nhiều hơn: phải tha thứ và thương yêu, mình mới thấy giá trị với chính mình; mình mới thực sự là quý yêu Trời, Phật; mà mình không bao giờ bỏ lời vàng của đức Phật lưu lại cho mình, lưu trữ trong tâm của chúng ta mãi mãi; quý Ngài, ôm lấy Ngài, và tiến như Ngài. Thấy rõ chưa?

Cho nên, chúng ta may mắn hơn: cũng học đạo Phật, nhưng mà chúng ta may mắn hơn: được giải thích cặn kẽ, tận tình, thực tiễn trong tâm chúng ta, và thấy rõ quyền năng sẵn có của chính mình, và thực hành cho kỳ được, nay một chút, mai một chút, thì chúng ta trở về với vị trí "Từ bi" không có khó khăn. Chớ đừng có nói, "Từ bi, hai chữ đó là quan trọng!" "Từ bi" là hai chữ, "Từ bi" là chữ Nho mà thôi; còn chữ Việt Nam là "Thương yêu và tha thứ." Còn "Từ bi" là hai chữ Nho. (Thầy cười). Nhiều người nói, "Hai chữ 'Từ Bi' sợ lắm! ‘Từ bi,’ chỉ có ông Phật mới có!" Không phải! Tha thứ và thương yêu là từ bi. Bạn bè mình chọc mình một chút mà mình giận người ta, đó là không có từ bi; thấy không? Tha thứ và thương yêu mới là từ bi.

(Tract #4 - 15:12)

Còn chữ "DI ÐÀ" là Phật Di Ðà thông hiểu sáu chữ “Nam, Mô, A, Di, Ðà, Phật” luyện đạo theo nghề chuyên môn của Ông, do nơi Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí. Khi Ngài thành Phật rồi, có lòng từ bi bác ái, truyền bá Pháp Lý Vô Vi cho ngừơi thế gian để tu làm Phật; do đó mới có cuốn "Kinh A Di Ðà" để dậy chúng ta. Ngài Di Ðà tuân theo lời Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni truyền bá cho Ngài, để cho Ngài phải tiếp điển dậy lại chúng ta. Lúc chúng ta luyện đạo chính đính êm dịu, có lòng tưởng đến Ngài, thì Ngài khiến cho điển chúng ta là linh hồn trực tiếp điển của Ngài truyền thanh. Khi xưa, lúc Ngài Di Ðà gần thành Phật, Ngài đắc Lục Huệ rồi, biết nghe và nói trên Thiên Không; lúc ấy Ðức Thích Ca nói đạo cho Ngài nghe; nhưng đồng thời hai Ngài cũng muốn cho công chúng được nghe nữa, nên mới ghi chú những lời "Kinh Di Ðà" giữa đám đông đệ tử của Ðức Di Ðà, để lưu ký, mà ngày nay chúng ta mới có cuốn "Kinh A Di Ðà." Trong “Kinh A Di Ðà” nói: Tu luyện trong bản thể ta thì ta thành Phật, cũng như Ngài. Môn đệ của Ðức Di Ðà nghe và chép ra theo lời nói của Ngài, làm thành cuốn "Kinh A Di Ðà," truyền bá từ đó đến nay cũng mấy ngàn năm.

Cho nên, sự thành công của người đi trước và người kế tiếp, hai cái luồng điển truyền cảm nó hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì luôn luôn muốn đưa tin lành đó cho các nơi, các giới, đồng hành để tiến tới sự giải thoát như Ðức Thích Ca và Ðức Di Ðà.

Chúng ta cũng vậy: huynh đệ tỷ muội chúng ta có một cơ duyên may mắn là được hiểu tâm linh, hiểu phần hồn của chúng ta, hiểu đường lối mạch lạc để khai triển giải thoát. Thì chúng ta muốn gì đây? Muốn cho triệu triệu ức người được nghe và được hành như chúng ta, thì cộng đồng nó mới khai triển tốt đẹp, sự hiểu lầm mới được giải tỏa giữa loài người và con người, sự đối đãi mới minh bạch. Cho nên, người tu không bao giờ hẹp hòi; người tu mà thành đạt được luôn luôn rộng rãi, không hẹp hòi; nhứt định cái tâm các bạn thực hành về Pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh rồi, tương lai cái tâm các bạn không bao giờ có thể bước vào trong chỗ hẹp hòi được. Khi các bạn muốn, "À, dấu người này; tôi không muốn cho người biết những cái bí mật của tôi," thì cái đầu các bạn sáng rồi! Vì sao? Vì mình hướng thượng mà! Trung tâm tập mở hai cái đừơng kinh mạch này nó mở ra, nó liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ; mà dấu một cái là nó động; động cái, nó sáng; sáng cái, mình biết mình xấu rồi! Mình phải từ tốn nói lại cho người ta nghe. Cho nên, sau này, các bạn giận vợ, giận con, giận người trong gia đình, mới la lên cái, đầu sáng lên! Sợ quá! Thôi, năn nỉ, huề đi! Bề Trên người ta nhắc liền, "Cái người hiền không có làm những điều ác ôn!" Từ đó mình giải quyết trong một tích tắc, chớ không phải đợi người khác nhắc mình, mình mới ăn năn. Không! Người tu Pháp Lý thấy sự sai lầm của chính mình tức khắc: sự hờn giận của mình, mình thấy liền, giải tỏa liền, trong giây phút; không phải như người thường, đợi gặp ông thầy, ông thầy mới chỉ! Không có! Người nào mà thực tâm tu hành Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, là thấy sự sai lầm của mình tức khắc, không có để lâu.

Cho nên, hôm qua đến nay, chúng ta nói "Nam, Mô, A, Di, Ðà, Phật." Rồi nói tới cái xác; nhưng mà, "Thân người khó được; ‘Nhân thân nan đắc’." Muốn thành một cái xác, không phải dễ đâu; mà các bạn bây giờ có cái xác là quý lắm.

"Phật pháp khó nghe," chúng ta mới đi học; thấy chưa? Nói "Phật pháp khó nghe;" nói nó nhẹ lắm, nói nó du dương lắm, mà nghe không vô, không có chỗ chứa! Tại sao? Tại mình thiếu thanh tịnh, không có chỗ chứa. Sách hay mà để một đống như vầy thì nó không có trật tụ; mà có cái kệ, để như vậy là nó có trật tự; nó có chỗ chứa. Thì chúng ta phải tu, phải hành, rồi nó có trật tự, nó mới chứa. "Phật pháp khó nghe," mà lập lại trật tự là dễ nghe và dễ tiến.

"Duyên lành khó gặp." Ðó. Hồi nào tới giờ ở Việt Nam chúng ta không có duyên lành; ngày nay chứng minh chúng ta có duyên lành: kẻ Mỹ Tho, người Cà Mâu, kẻ ngoài Bắc, người trong Nam, bây giờ cũng ngồi chung trong một căn phòng này được; thấy chưa? Ðó. Thì "Duyên lành khó gặp," mà ngày nay chúng ta có "Duyên lành" tái ngộ rồi, thì chúng ta bất phân tuổi tác, bất phân giai cấp, đi học đạo!

"Xứ Phật khó về." Xứ Phật là từ bi, mà tại sao nói, "Khó về?" Tại vì chúng ta không hòa với sự từ bi, và chúng ta không có sự thanh nhẹ, làm sao bước vô sự thanh nhẹ? Cũng như một khối người ở đây mà khi người khác mà tới mà không chịu hòa với chúng ta, đâu có chịu ăn chay với chúng ta, đâu có chịu sống chung trong cảnh huynh đệ xít nhau, gần nhau, để sống để thỏ thẻ với nhau? Không, người ta không chịu, người ta phảỉ bỏ đi! Tại họ, chớ không phải tại Phật; mà cũng không phải tại xứ Phật. Cho nên, mặt đất này dễ sống, nhưng mà họ cho là khó sống. Thì nhờ mặt đất, nhờ sự kích động, nhờ sự thiếu thốn, họ mới khai triển tâm thức: sáng chế cái này, sáng chế cái kia, sáng chế cái nọ; họ thấy thích thú và thấy hạnh phúc, là do sự cố gắng của chính họ. Thì bây giờ chúng ta tu ở đây, chúng ta phải cố gắng; chúng ta mục đích muốn về xứ Phật, mà chúng ta cứ nói, "Xứ Phật khó về," là tại vì chúng ta không chịu về, không chịu hành, không chịu đi. Làm sao về tới?

Cho nên, bốn cái khó khăn này, ông Thích Ca đã thành công: Ổng hành. "Thân người khó được," thiệt, ổng ra, ổng thấy biết bao nhiêu người bị đốt, bị giết, bị hại; nhưng mà thân của Ông đó, làm sao Ổng bỏ cái thân này Ổng bước qua cái thân khác như vậy? Không được! Thấy không?

"Phật pháp khó nghe," Ổng muốn tìm cái từ bi cởi mở để cứu độ tất cả quần sanh, tránh tai nạn tại mặt đất; nhưng mà không làm sao mà hiểu được! Mà khi Ổng hiểu được, thì Ông không làm sao mà truyền bá cho chúng sanh cho nó hiểu được và nó tránh cái tánh hung hăng của nó, và để nó hướng thiện.

Cho nên, "Duyên lành khó gặp." Cho nên, Ổng đành Ổng phải đi tu: toàn dân hướng về Ổng. Ông đã có duyên, nhưng mà cái duyên lành không có; toàn là cái chuyện ác ôn, cái chuyện khổ cực: đưa tâu lênvua, đưa trình cho những nhà chánh trị phải lo, phải sửa, thì Ông thấy "Duyên lành khó gặp."

(Hết băng) -- [audio hơi bị thiếu 1 chữ trước khi qua cuốn 2]

VVL Item # 19860101L3

CHÉP: Nguyễn t Xuân An peaceinspring@yahoo.com


----
vovilibrary.net >>refresh...