[Video 19860100L14- cuốn 3]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ – Video - Cuốn 3

Gồm 12 video clips sau đây:

  1. VẤN ĐẠO (1): Các khóa sinh thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của Thiền Sư Lương Sĩ Hằng, ngày 4 tháng 1, 1986 ;
  2. VẤN ĐẠO (2): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo;
  3. VẤN ĐẠO (3): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, và phần dẫn giải của thiền sư;
  4. VẤN ĐẠO (4): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  5. VẤN ĐẠO (5): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư, ngày 5 tháng 1, 1986;
  6. VẤN ĐẠO (6): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  7. VẤN ĐẠO (7): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  8. THUYẾT GIẢNG: thiền sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục tiếp tục gia6ng Kinh A Di Đà, trang 48 đến 109 , ngày 6 tháng 1, 1986;
  9. VẤN ĐẠO (8): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  10. VẤN ĐẠO (9): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  11. VẤN ĐẠO (10): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;

Sẽ dùng 12 bài đã chép của nhiều audios cùng tên gồm có:

ID# 19860100Q1 : 19860100Q1 - KHÓA HỌC KINH A DI ÐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn A –

ID# 19860100Q2 - KHOÁ HỌC KINH A DI ĐÀ: Vấn Ðạo - Cuốn B –

ID #19860100Q9 - KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ- MÃN KHÓA-BĐ PHÁT NGUYỆN (Phần 1, 2)

[ID#19860101Q5] - Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2A

ID#19860101Q7] - Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Nhóm Bạn Đạo Thảo Luận Cách Hành Pháp - Cuốn 3A –

ID# 19860101Q8] - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: BĐ Đàm Đạo - Cuốn 3B –

ID# 19860102Q1] Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ : BĐ Đàm Đạo ; THẦY MINH GIẢI - cuốn 4A – pp

ID#19860106Q5] - Khóa Huấn Luyện "KINH A DI ĐÀ" : Bạn Đạo Thực Tập Truyền Pháp - Vấn Đạo" - Cuốn 18A

Sẽ dùng 12 bài đã chép của nhiều audios cùng tên gồm có:

ID# 19860100L2

ID# 19860100L3

ID# 19860100L4

ID# 19860100L5

ID# 19860100L6

ID# 19860100L7

ID# 19860100L8

ID# 19860100L9

ID# 19860100L10

ID# 19860100Q1

ID# 19860100Q2

---- +++++ -----

[Trước Video 19860100L14-cuốn 3 là hai videos: Video 19860101L2 -cuốn 1 và Video 19860100L16-cuốn 2]

[Video 19860101L2-cuốn 1]

KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ" - cuốn 1

Bao gồm những video clips sau đây:

  1. PHẦN KHAI MẠC: Thiền sư Lương Sĩ Hằng khai mạc khóa học "Kinh A Di Đà," Melbourne, Úc Châu ngày 1 tháng 1, 1986.
  2. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 1: Thiền sư Lương Sĩ Hằng bắt đầu thuyết giảng Kinh A Di Đà.
  3. VẤN ĐẠO (1): Các khóa sinh vấn đạo với Thiền Sư.
  4. VẤN ĐẠO (2): Các khóa sinh tiếp tục vấn đạo với Thiền Sư, ngày 1 tháng 1, 1986.
  5. THẢO LUẬN ĐẠO (1): Các khóa sinh và Thiền Sư đàm đạo.
  6. THẢO LUẬN ĐẠO (2) : Các khóa sinh và Thiền Sư tiếp tục đàm đạo.
  7. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 2: Thiền sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục thuyết giảng “Kinh A Di Đà,” ngày 2 tháng 1, 1986.
  8. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 3: Thiền sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục thuyết giảng “Kinh A Di Đà.”
  9. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 4: Thiền sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục thuyết giảng “Kinh A Di Đà.”
  10. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 5: Thiền sư Lương Sĩ Hằng phân giải Nguyên Lý “Nam Mô A Di Đà Phật.”
  11. THUYẾT GIẢNG KINH – PHẦN 6: Thiền sư Lương Sĩ Hằng phân giải về Pháp Luân Thường Chuyển.
  12. VẤN ĐẠO (3): Các khóa sinh tiếp tục vấn đạo với Thiền Sư, ngày 2 tháng 1, 1986.
  13. VẤN ĐẠO (4): Các khóa sinh tiếp tục vấn đạo với Thiền Sư.
  14. VẤN ĐẠO (5): Các khóa sinh tiếp tục vấn đạo. Thiền Sư giảng về Thượng Đế.

GHI CHÚ:

Video ID# 19860101L2 từ 1 đến 14 so sánh với 14 Mp3.

Có 2 ItemID không trùng là:

ID# 19860101Q7 – “Nhóm bạn đạo thảo luận cách hành pháp - cuốn 3A”

ID# 19860101Q8 – “Nhóm bạn đạo thảo luận cách hành pháp - cuốn 3B”

12 mp3 có trùng tương ứng 14 videos là những ItemID sau:

ID# 19860101L3, ID# 19860101Q4, ID# 19860101Q5, ID# 19860101Q6, ID# 19860102Q1, ID# 19860102Q2, ID# 19860102Q3, ID# 19860102Q4, ID# 19860102Q5, ID# 19860102Q6, ID# 19860103Q1, ID# 19860103Q2

----- +++++ -----

[Trước Video 19860100L14-cuốn 3 là hai videos: Video 19860101L2 -cuốn 1 và Video 19860100L16-cuốn 2]

[Video 19860100L16-cuốn 2]

[video 19860100L16-cuốn 2]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ – cuốn 2 -

  1. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN
  2. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (2)
  3. LUẬN ĐẠO
  4. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (3)
  5. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (4)
  6. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (5)
  7. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (6)
  8. KẾT LUẬN và MINH GIẢI
  9. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 7
  10. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 8
  11. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 9
  12. CHIA NHÓM TU HỌC
  13. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 10
  14. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 11
  15. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 12

[Ghi chú về bài chép: so sánh 15 videos - Khoa Kinh ADĐ ID# 19860100L16 với 11 audios] [Video trong Thư Viện Vô Vi Trên Mạng ID#19860100L16]

KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ" - video cuốn 2 - Bao gồm những video clips sau đây:

  1. Rút Quẻ Kinh Điển: Thiền sư cho các thiền sinh bốc thăm giảng từ các cuốn kinh. Giảng "Thiên Đàng Du Ký", ngày 3/1/1986
  2. Rút Quẻ Kinh Điển (2): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Thượng Đế Giảng Chơn Lý"
  3. Luận Đạo: Thiền sư giảng về Hồn Vía tương hội.
  4. Rút Quẻ Kinh Điển (3): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Thượng Đế Giảng Chơn Lý".
  5. Rút Quẻ Kinh Điển (4): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Địa Ngục Du Ký" và "Phụ Ái Mẫu Ái"
  6. Rút Quẻ Kinh Điển (5): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Địa Ngục Du Ký", "Phụ Ái Mẫu Ái", và "Phép Xuất Hồn".
  7. Rút Quẻ Kinh Điển (6): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Văn Tự Vô Vi", "Thiên Đàng Du Ký", "Luân Hồi Du Ký".
  8. Kết Luận và Minh Giải: Thiền Sư kết luận và minh giải những quẻ kinh điển.
  9. Thuyết Giảng Kinh – Phần 7: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 41-47, ngày 4/1/1986.
  10. Thuyết Giảng Kinh – Phần 8: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 48-53.
  11. Thuyết Giảng Kinh – Phần 9: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 53-57.
  12. Chia Nhóm Tu Học: Các thiền sinh chia nhóm tu học, học hỏi về điển.
  13. Thuyết Giảng Kinh – Phần 10: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 57-71.
  14. Thuyết Giảng Kinh – Phần 11: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 71-80.
  15. Thuyết Giảng Kinh – Phần 12: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 80-87.

So sánh với 11 audios, bao gồm:

  1. ID# 19860103Q3: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 8A
  2. ID# 19860103Q4: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 8B
  3. ID# 19860103Q5: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 9A
  4. ID# 19860103Q6: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 9B
  5. ID# 19860104Q1: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 10A
  6. ID# 19860104Q2: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 10B
  7. ID# 19860104Q3: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 11A
  8. ID# 19860104Q4: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 11B
  9. ID# 19860104Q5: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 12A
  10. ID# 19860104Q6: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 12B
  11. ID# 19860105Q2: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 13A

----- +++++ -----

[video 19860100L14-cuốn 3]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ – Video - Cuốn 3

Gồm 12 video clips sau đây:

  1. VẤN ĐẠO (1): Các khóa sinh thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư Lương Sĩ Hằng, ngày 4 tháng 1, 1986 ;
  2. VẤN ĐẠO (2): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo;
  3. VẤN ĐẠO (3): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, và phần dẫn giải của thiền sư;
  4. VẤN ĐẠO (4): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  5. VẤN ĐẠO (5): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư, ngày 5 tháng 1, 1986;
  6. VẤN ĐẠO (6): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  7. VẤN ĐẠO (7): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  8. THUYẾT GIẢNG: thiền sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục tiếp tục gia6ng Kinh A Di Đà, trang 48 đến 109 , ngày 6 tháng 1, 1986;
  9. VẤN ĐẠO (8): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  10. VẤN ĐẠO (9): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;
  11. VẤN ĐẠO (10): Các khóa sinh tiếp tục thực tập vấn đạo, với sự chủ tọa của thiền sư;

Sẽ dùng 12 bài đã chép của nhiều audios cùng tên gồm có:

ID# 19860100Q1 : 19860100Q1 - KHÓA HỌC KINH A DI ÐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn A – pp 5 - 17

ID# 19860100Q2 - KHOÁ HỌC KINH A DI ĐÀ: Vấn Ðạo - Cuốn B – pp 44 - 59

ID #19860100Q9 - KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ- MÃN KHÓA-BĐ PHÁT NGUYỆN (Phần 1, 2) pp 80 - 98

[ID#19860101Q5] - Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2A – pp 20 - 42

ID#19860101Q7] - Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Nhóm Bạn Đạo Thảo Luận Cách Hành Pháp - Cuốn 3A – pp 59 - 68

ID# 19860101Q8] - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: BĐ Đàm Đạo - Cuốn 3B – pp 110 - 114

ID# 19860102Q1] Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ : BĐ Đàm Đạo ; THẦY MINH GIẢI - cuốn 4A – pp 99 - 109

ID#19860106Q5] - Khóa Huấn Luyện "KINH A DI ĐÀ" : Bạn Đạo Thực Tập Truyền Pháp - Vấn Đạo" - Cuốn 18A pp 69 - 79

----- +++++ -----

[Video 19860100L14-cuốn 3]

KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ – Video - Cuốn 3

[ID# 19860100Q1]

KHÓA HỌC KINH A DI ÐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn A – pp 5 - 17

Đức Thầy: Mà nó thừa tiếp được cái thanh điển rồi; tự động rồi; lúc đó nhắm là đi!

BĐ1: Con xin cám ơn Thầy. Như vậy thì ép đây có nghĩa là mình...

Đức Thầy: Đổi chiều hướng.

BĐ1: Đổi chiều hướng. Nhưng mà có phải mình tập trung niệm Phật lên đây cũng là hình thức ép?

Đức Thầy: Cũng là hình thức ép, bởi vì là chỉ con đường đi lên: đối với những người mới tu là phải chỉ ngay cái đường hướng ngay chỗ này; mình niệm Phật ở đây, thay vì niệm Phật ở đây, cái nào mau hơn? Nhưng mà ban đầu mình muốn niệm ở đây, niệm không được; niệm nó lẩn quẩn cũng có ở đây thôi à! Rồi một thời gian sau, mình chú ý ở đây, rồi mới thật sự lên đây. Lúc đó mình mới cảm thấy rằng “Lúc tôi niệm là nó ở trên này.” Giỏi lắm cũng mất hai, ba năm! Mấy người thường mà mới bước vô tu, hai, ba năm mới có cái kết quả đó! Cho nên, phải trì kì chí hướng về đó, kêu bằng hướng thượng: “Thượng” là trên bộ đầu mình đây nè!

BĐ1: Dạ, một hình thức khác ép là ví dụ như trong lúc nhắm mắt.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ1: Thì người ta nghĩ tới một vị, vị nào cũng vậy. Chẳng hạn như nghĩ tới Thầy trên đỉnh đầu, hay là nghĩ tới Cha trên đỉnh đầu cũng là hình thức … ?

Đức Thầy: Không được, cái đó không được; cái đó con ma nó có thể mượn. Mình nghĩ, “Khả năng của tôi có thể xuất ra, tôi phải rời khỏi thể xác này;” nghĩ, “Tôi đi thôi!” Đừng có cần ai ở trên đầu của mình.

BĐ1: Dạ.

Đức Thầy: Không nên; cái đó không nên; không nghĩ, “Một vị nào trên đầu tôi; tôi xuất ra, tôi gặp vị đó, tôi mới chịu;” thì nó khác đi!

BĐ1: Dạ.

Đức Thầy: Nhẹ hơn!

BĐ1: Dạ.

Đức Thầy: Anh thấy không?

BĐ1: Dạ, kính cám ơn Thầy! Câu hỏi thứ hai là: Phật Thích Ca lúc ngồi ở trong rừng, thành đạo nhờ tìm ra được, thực hành theo cái Nguyên Lý “Nam Mô A Di Đà Phật;” vậy cái nguồn gốc “Nam Mô A Di Đà Phật” đó, cái nguyên lý đó có phải là của Thượng Đế tạo ra không?

Đức Thầy: Đúng; nó là của cái thức hòa đồng của Đấng Đại Từ Bi, sản xuất bởi Đại Từ Bi, chớ không phải Từ Bi. Đại Thanh Tịnh mới sản xuất cái đó ra được: cứu độ chúng sanh và để cho chúng sanh có cơ hội thức tâm và mở lục thông; của Đấng Đại Từ Bi; của Thượng Đế mà!

BĐ1: Dạ thưa, còn câu hỏi chót, mà nó hơi ngoài lề một chút, có tính cách tò mò; xin Thầy tha lỗi;

Đức Thầy: Ừ.

BĐ1: Sớm mơi này Thầy cho biết là cách đây ít tháng Thầy có dịp đi lên và dòm thấy Thầy trong sổ Thầy đã tu được trên năm ngàn năm. Vậy những sổ sách, và những cảnh huống trên đây ra sao, Thầy có thể hé mở chút đỉnh cho anh em biết?

Đức Thầy: Cho nên, vô được Thượng Đế và Thượng Đế cho phép mình mới được vô, ban chiếu mình mới đi vô; đi vô đó thì lâu lâu Ngài chuyển ý cho mình tới coi, cũng như coi hồ sơ, chớ không có ai biết đi tò mò vụ đó! Tôi, tôi cũng không để ý cái vụ đó, và tôi cũng không thích cái vụ đó, tôi tu bao nhiêu ngàn năm? Tôi thấy tôi tu năm ngàn lẻ bốn năm! “Cái gì dữ vậy?” Rồi về cái, nghe ông Trời ổng cười, ổng nói: “Mầy, bảy ức niên mới thành con người, mà mầy tu có năm ngàn bốn năm mà mầy la nhiều hả! Tu nữa đi!” Mình mắc cở! Là Ổng dạy mình, chớ không phải mình hay! Nói: “Anh bảy ức niên mới cấu trúc thành cái thể xác, mà bây giờ Anh tu có năm ngàn lẻ bốn năm!” Mắc cỡ quá; mới có năm ngàn lẻ bốn năm, ăn chung gì! Phải không? Ổng dạy mình phải cố gắng tu nữa, chớ đừng thấy vậy là đủ. Ổng giáo dục; mà bằng bằng chứng đàng hoàng! Về, mình càng cố gắng tu hơn, không thể bỏ đạo được.

BĐ2: Con cũng muốn nhờ Thầy coi thử có tên Anh Hữu ở trong sổ.

Đức Thầy: Tôi đã nói rằng: Ông Thượng Đế chuyển ý thì Anh sẽ thấy hồ sơ của Anh; còn Thượng Đế mà không chuyển ý bởi lòng thành của Anh và cái công việc của Anh, Anh làm xứng đáng mà Thượng Đế thưởng, thì chắc là không có cho Anh thấy cái đó (cười)!

BĐ3: Thưa Thầy con nhớ, nếu con nhớ không lầm, con nhớ không rõ lắm; nhưng mà có mấy lần, Đức Kim Thân giảng;

Đức Thầy: Ừ.

BĐ3: Trong “Thượng Đế Giảng Chân Lý” hay là trong băng gì đó, thì Đức Kim Thân có nói rằng: “Như Thầy của các con đó!”

Đức Thầy: Ừ.

BĐ3: “Thầy Tám đó, thì có cách đây cũng mấy năm rồi, muốn vô gặp Thượng Đế, cũng bị dạt ra.”

Đức Thầy: Ừ.

BĐ3: “Mà bây giờ thì Thầy đi ra, vô như thường;” như vậy là trong mấy năm qua Thầy đã tu tiến lên?

Đức Thầy: Bởi vì trong mấy năm qua tôi tu theo Phật thôi à, tôi không có thèm Thượng Đế. Rồi sau, Thượng Đế kiếm tui, nói: “Mày phải làm việc cho tao. Tao, nghĩa là, bây giờ ban cho Mày, bây giờ cho Mày cái autorisation permanente, một cái giấy phép thường trực, mày đi ra, đi vô chơi, không sao! Cha cho!” Nói rõ ràng ở trong nhà Mai Ngọc Pháp đó.

BĐ3: Dạ; cái đó là Thượng Đế cần Thầy làm việc, Thượng Đế ban cho thầy cái ấn.

Đức Thầy: “Bắt đầu từ giờ phút này, tao thách mày, mày muốn đi làm thợ máy, hay làm gì, không có thằng nào mướn hết;” nói đúng như vậy! Bởi vì tôi kì này, tôi ra, tôi nóI, “Tôi đi làm thợ máy bởi vì tôi thích máy, tôi đi làm thợ máy; tôi không có nói đạo nữa; tôi lo tôi tu, tôi làm thợ máy;” Mà đố tôi đi làm được! Làm không có được! Tôi, mục đích là ra đây tôi đi làm thợ máy đó.

BĐ3: Con nhớ trong cuốn “Thiên Đàng Du Ký” đó, thì nói rằng: Phải luyện cho thành Kim Thân mới qua được cái cửa đó, mới vô được Thiên Đàng.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ3: Thì nếu mà trình độ tu tập của tụi con đó, thì phải không biết bao nhiêu ngày để luyện được cái luồng điển mình qua cái cửa Nam Thiên?

Đức Thầy: Luyện về phần Hồn, mỗi đêm mỗi tu là được; mỗi đêm mỗi làm Pháp Luân Thường Chuyển là mỗi đốt, đốt cái Hồn này để được đi lọt vô trong đó. Cho nên, cái Vô Vi nó lợi lắm: mỗi đêm mỗi Soi Hồn, mỗi Pháp Luân, là mỗi đốt đó; chớ không phải để yên đâu; đốt cái trần trược, đốt cái Hồn. Rồi khi mà mình đi lên, tự nhiên thấy rớt xuống; đó, rồi cố gắng trở lộn lại: nó hồi sinh trở lại; đương đi thấy ngộp, chết, rồi hồi sinh trở lại. Lúc đó là được đốt, điêu luyện mới thành được Kim Thân; “Kim Thân” là phần Hồn bất hoạI; không phải thể xác.

BĐ3: Cũng như Anh Trường nói hồi sáng đó, mới đi tới cửa, bị cửa đóng lại, biểu “Trở về;” là tại Hồn đốt chưa đủ, vô không được?

Đức Thầy: Chưa đủ sức, chưa đủ sức; rồi phải làm một lúc, ít kỳ nữa mới lên; ngộp muốn chết; mà khi trở về là tưởng cái xác này nó tiêu rồi, thấy khô cổ hết, nuốt nước miếng cũng không có nữa. Lúc đó là mình bị đốt, tiêu rồi, và được hồi sinh; thì về, chừng hai tuần là con người nó thông minh vô cùng; nó thấy nhiều chuyện lắm; chỉ biết cười, mà nụ cười cũng thay đổi, mặt mày vui, nó khác; con mắt nó lóng lánh, sáng suốt lắm.

BĐ3: Như vậy Thầy nói nhiều khi Pháp Luân Thường Chuyển, nó nóng cái xác lên, nó nóng cái mặt như là bị một cái luồng điển ở ngoài nó hà vô thật nóng,

Đức Thầy: Đốt;

BĐ3: Thầy nói cái đó là tại vì còn trược nhiều, hay là vì mình đốt mà nó nóng, có cảm giác như có một cái sức nóng ở ngoài nó ùa tới.

Đức Thầy: Không có, cái đó là do cái khí trời này thôi: nó áp tới là do khí trời này thôi. Còn cái đốt là đốt ngay chỗ cái phần Hồn đi: trong lúc mình đi, mình bị rơi xuống, hay là mình bị tan rã ra, rồi hồi sinh lại; đó là bị đốt. Còn cái đó là cái khí trời thôi, nó áp tới đây là cái khí trời nóng, cái da mình cảm giác cái đó; không phải. Cái thức mình cảm giác, thì cái Hồn mới tiến. Hai cái khác nhau. Buồn ngủ! (cười) Bây giờ, toán nào nữa?

BĐ3: Thầy trả lời câu của Anh Hữu chưa hết: Anh Hữu hỏi trên đó cảnh ra làm sao?

Đức Thầy: Cảnh nào, muốn cảnh nào?

BĐ3: Cảnh Thầy lên coi sổ đó.

Đức Thầy: (cười) Cho nên, tôi đã trả lời cho Ảnh rồi! Ảnh ráng tu thì Thượng Đế, Ổng chuyển ý cho coi hồ sơ đó: có sổ sách đàng hoàng, không có giỡn đâu; Ông Trời không có giỡn đâu; nói đâu có đó, không có giỡn.

BĐ4: (nghe không rõ câu hỏi)

Đức Thầy: Nữ thì bên trong Âm, bên ngoài Dương.

BĐ4: Dạ, thưa Thầy; thuần tính Âm, vậy thì nữ thuần nó trược, thành ra rước cái trược vào, hay sao?

Đức Thầy: Không! Thuần Âm là khác: thuần Âm nó được đi lên.

BĐ4: Dạ. Âm vẫn đi lên?

Đức Thầy: Âm vẫn đi lên; thuần âm nó đi lên à. Cho nên, Anh đi, xuất hồn, thấy những cô tiên ở bên sông Bĩ Ngạn bên kia họ ngoắc. Nếu những người đó không thuần Âm, làm sao mà thành cô tiên mà bận áo đẹp như vậy? Ngoắc mình. Mình cứ ngó mấy cái đó, rồi mình đi qua luôn; mất hồn, qua khỏi sông rồi mà không biết; mà nhờ mấy cổ! Mình phải quỳ lạy cảm ơn chớ; phải không?

BĐ4: Thưa Thầy, như vậy Thầy nói cái âm của ma thì như thế nào?

Đức Thầy: Cái âm khí của ma là thuộc về trược khí; không phải âm.

BĐ4: Dạ.

Đức Thầy: Trược khí.

BĐ4: Trược khí khác với âm khí?

Đức Thầy: Ờ; cái trược khí. Còn thuần âm là khác: thuần âm là người ta hoàn tất rồI; Anh hiểu chưa? Còn con ma, nó thiếu nhiều bộ phận lắm: nó thiếu, nó là trược mà: la đà, la đà; nó không có thể bay cao được.

BĐ4: Dạ, thưa Thầy, như vậy là Thầy phân biệt Trược khác với Âm khí?

Đức Thầy: Khác! Âm khí khác.

BĐ4: Dạ; con cám ơn Thầy!

Đức Thầy: Còn đây là người ta nói “Thuần âm” là hoàn tất của cái tâm đạo của một người nữ giới, kêu là “Thuần âm.”

Cho nên, Diêu Trì Kim Mẫu xuống, đâu có nói hung hăng được! Ngài thuần âm: “Các Con ơi, các Con phải về với mẹ đi, các Con ơi! Ngày đêm mẹ đang trông chờ các Con!” Cảm động vô cùng; cái lời nói của một người thuần âm độ đời đó, họ không có nói hung hăng đâu. Còn Thượng Đế, ổng nói, nghĩa là, “Các Con liệu đó”; biết mấy thằng đó nó dữ quá mà; ổng mới nói: “Tam Giáo Toà sẽ xét Con: Con xem kĩ: Tam Giáo Tòa không có xê xích một li đó các Con. Cha không cách gì can thiệp được đâu Con!” Nói vậy! Chết tổ rồi! Đó; cho nên cái tiếng Âm với tiếng Dương, hai cái khác.

BĐ5: Thưa Thầy, xin phép cho con hỏi được một câu!

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Trong sách Du Ký.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Các sách như là “Thiên Đàng” hay là “Địa Ngục” hoặc là “Luân Hồi,” “Nhân Gian Du Ký”.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Thì nói rằng: Trước khi mà con người được đầu thai lên, thì cho ăn cháo lú.

Đức Thầy: Phải.

BĐ5: Để mà quên hết cái chuyện tiền kiếp.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Và nó được tái sinh ra để mà trả nghiệp ở thế gian.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà ở thực tế, trên cái hậu bán thế kỉ 20 này; thì rất nhiều các nhóm khoa học;

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Đã tìm ra được, hay là khám phá ra được, có những người, người ta nhớ lại được tiền kiếp của họ rõ ràng.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Ví dụ như là một người phi công chết trong trận Đệ Nhị Thế Chiến, họ kể lại cái tên số máy bay.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Thì như vậy đâu phải là…?

Đức Thầy: Có chớ, có một số người người ta cũng có tu, và đi tới giai đoạn đó họ bị acident rồi họ trở về, họ nhớ hết cái chuyện tiền kiếp của họ: họ đã tiến qua một cái giai đoạn, và họ đã làm phước nhiều, cái tâm của người đó nhẹ nhàng. Rồi những người mà xuống đây để học hỏi tiến hóa mà cho họ biết hết, nó không có ở chung với nhau, nó không chịu: bởi vì tính ra, mẹ mà đi lấy con, làm sao họ lấy được; phải không? Hai cái nghiệp duyên nó phải vay trả với nhau: hai mẹ con phải hàn gắn lại để xây dựng tình thương ở kiếp này, thì nó phải sống với nhau: hai người thù được sống với nhau.

Cho nên, biết người đó là người thù, nó giết rồi: “Mày, tiền kiếp thù tao; bây giờ Mày về đây là Mày quản lý tao, Mày hành tao đủ thứ hết;” sớm mơi tới chiều, kiếm chuyện không hà; mà ông kia không có làm gì hết, mà bà này cứ ghen từ gà gáy tới khuya cũng ghen luôn; phải kiếm chuyện không? Mà ổng biết được tiền kiếp thì ổng giết mất; phải không? Không cho biết là vì lý do đó. Thành ra, ổng mê cái oai, cái dương điển, oai hùng của bả: khi bả trừng mắt, là hết hồn, thì thôi, làm thinh; chớ ổng biết trong nội bộ là ổng đâm chết cho rồi! Thành ra, không cho biết cái bí mật đó. Mà hai người phải học: thì ông kia ổng học rồi, ổng dẹp cái tự ái, ổng hạ mình, ổng chìêu vợ ổng để ổng phục vụ trong cái hoàn cảnh này; thì lúc đó ổng mới thấy “Hoàn cảnh là ân sư,” ổng mới tìm đường ổng tu.

BĐ5: Thưa Thầy, có câu hỏi này là, ví dụ như cái con mắt của con người ta đó.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Khi mạnh là mạnh hết hai con.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Và khi yếu thì yếu hết hai con.

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà riêng cái trường hợp của con,

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Thì con mắt trái mạnh;

Đức Thầy: Ừ.

BĐ5: Con mắt phải yếu.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Con mắt trái có thể nhìn thẳng được;

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà con mắt phải nó không được thẳng lắm;

ĐT: Ừ.

BĐ5: Như vậy là sao, Thầy?

ĐT: Cái đó là do cái thận: cái câu trả lờI, chắc là Anh phải biết: tại vì cái tình dục nó làm cho mình sa sút. Nhưng mà luôn luôn một bên mạnh và một bên yếu: mọi người luôn luôn có một bên mạnh, bên yếu, chớ không phải hai bên đều hết đâu; không có đều hết đâu: bên Mặt Trăng thấy xa hơn, bên mặt nè, dòm thấy, thấy xa, mà nhẹ nhàng. Bịt bên này, dòm bên này, thấy ngắn hơn, mà hơi nóng một chút; nó không có thanh nhẹ. Bên mặt khác, bên trái khác; mà do đâu? Do hai cái trái cật. Mà trái cật thấy yếu, là tình dục nhiều, là con mắt nó suy sụp. Ban đầu, “Bây giờ tôi coi chữ, tôi không có tình dục, tôi coi chữ, coi không cần kiếng. Nhưng mà tôi tình dục chừng ba đêm, là không có kiếng, không thấy chữ! Tại sao? Thấy không? Cho nên, mình hiểu nó liên hệ với nhau; mà mình làm mất sự quân bình là mình phải gánh chịu; cái bài học đó chớ.

BĐ5: Dạ, cám ơn Thầy!

ĐT: Ừ.

BĐ6: Thưa Thầy, con chưa rõ là vấn đề người nữ, là thầy nói phần Hồn là phần Âm, và Vía là phần Dương?

ĐT: Ừ.

BĐ6: Như vậy là người nữ xuất hồn hay là xuất vía? Và khi mà qua cái sông Bỉ Ngạn đó, cái người đàn ông thì thấy cô tiên. Như vậy người nữ lên cái sông Bỉ Ngạn đó, là thấy Ông Tiên hay là thấy Bà Tiên?

ĐT: Thấy Ông Tiên chớ! Không phải là đi qua sông Bỉ Ngạn thấy Ông Tiên! Khi mà tu thiền, mà hai người hội rồi đó, mình thấy có một anh thư sinh ảnh đứng trước mặt, “Đẹp quá,” mà làm cho mình nhớ hoài; “Cái cô đó, làm sao tôi nhớ hoàI; mà tôi lại không muốn nhớ ông xã này, mà tôi nhớ cái ông kia hoài, mà mặt mày tươi!” Thì lúc đó ông kia mà tới, bả không có muốn đâu; cái này nó ghét, cái vía nó ghét. Đàn ông cũng vậy: đàn ông mà tu, mà thấy được bà xã rồi đó, cái vía nó ghen; khi mà bả tới, mình thấy ngứa mình lắm; tránh vậy đó. Đó, nó có cái vụ đó.

Cho nên, các Bạn phải để ý có cái vụ đó; sự thật nó như vậy: không muốn cái bà kia tới, vì cái bà này bả không có cho; tới là nó tránh né đó; nó kì vậy: nó thấy ngứa lắm, nó không chịu.

BĐ6: Vậy người nữ xuất là xuất hồn hay là xuất vía? Cái đó coi như là… cái người nữ xuất lên trên đó, gọi là “xuất vía” hay là “xuất hồn”?

ĐT: Xuất hồn chớ! Xuất vía trước, rồi sau mới xuất hồn chớ: ban đầu phải tập tành cái vía, bởi vì khi mà Chủ Nhân Ông thức tỉnh rồI, lo tu, thì cái vía rảnh rang rồi, cái vía phải đi chỗ này, chỗ nọ để tìm hiểu trước: cũng như là ông Thủ Tướng ổng tìm đường cho ông Tổng Thống đi, chớ có gì đâu.

Cho nên, sau này cái Hồn trụ trì rồi, hỏi cái gì thì cái Vía nó báo cáo, nó lo, và hai bên sẽ đàm đạo văn chương đồ dữ lắm. Sau này các Bạn tu nhẹ, các Bạn làm thơ thi đó, không phải phần Hồn làm đâu, cái Vía làm: cái Vía đi giao du nhiều, về làm thơ thi, rồi nhắc mình tu. Mình hết động loạn rồi, mình không có đòi hỏi cái gì hơn hết là cái tu, là lúc đó cái Vía nó tỉnh táo.

BĐ6: Thưa thầy, con thì thực tế một chút;

ĐT: Ừ.

BĐ6: Con không hỏi những chuyện đó.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Con hỏi về công phu.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Xin Thầy cho con hai câu hỏi.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Cái thứ nhất là, khi làm Pháp Luân Thường Chuyển, mình làm sao biết cái hơi của mình dài hoặc là hơi ngắn? Có một số bạn đạo họ nói rằng cái hơi họ thở chưa được dài, do đó họ thở mấy chục lần.

ĐT: Cho nên, cái hơi dài hay là ngắn: con người đi về tình dục nhiều thì cái hơi phải ngắn; mà khi mà nó thức tâm tu rồi đó, ban đầu tu là ngắn; nhưng mà lần lần nó làm nay một chút, mai một chút, đêm này, đêm kia, đêm nọ; lần lần lần liên tục hai, ba năm cho hơi dài: cái hơi tự ý nó chuyển là nó đi dài, vô bao nhiêu, cũng vô vô vô vô nhẹ, một hơi dài ghê lắm; mà rất nhẹ; bằng ý, mà cái hơi đó không phải là hơi nữa, ánh sáng mà thôi; nó cảm thấy ánh sáng như đèn neon: nó sung sướng, nó ngồi hoài, nó chỉ thấy hít vô thôi, nhưng mà cái bụng nó không cục cựa. Nó khác hơn hồi xưa rồi, cái trình độ nó nó khác rồi: nó đi thẳng và nó mát từ xương sống xuống; nó đi vô cái toàn là ánh sáng; rồi từ đó nó mới phát ra; nó thấy cảnh, nó thấy bốn bể, thấy này, thấy núi, thấy non, là nó định rồi.

Đó là cái Pháp Luân Thường Chuyển: ban đầu thì vô, ai cũng hụt hơi, thiếu hơi, vì tình dục đã xài phí nhiều ngày, nhiều tháng; cái hơi nó yếu. Còn người ta còn con gái, con trai, cái hơi nó mạnh hơn; chỉ nó, nó làm mau hơn, toát mồ hôi liền. Còn những người mà có chồng, có con, thì cái hơi nó phải thở è ạch; mà nó thích thở, cho nên nó làm nhiều hơi nhiều hơn; sau này, hơi dài là nó làm một hơi là thấu óc rồi, đâu có làm nhiều nữa: làm sáu hơi là thấy toát mồ hôi rồi, bừng cả mặt, hồng hào lên, nó khác.

Cho nên, cái hơi ban đầu, người nào cũng là ít, nếu người nào có vợ có chồng là phải ít; nhưng mà luyện một thời gian khôi phục rồi mình mới thấy rõ: Tôi khỏe hơn trong lúc tôi 20 tuổi; tôi 50 tuổi mà tôi luyện rồi tôi thấy tôi khỏe hơn lúc 20 tuổi. Nó khôi phục rồi, cái nguyên khí nó khôi phục rồi; ăn ngon, ngủ yên, khỏe mạnh. Lúc đó, cái hơi nó chạy toàn thân rồi, thì nó trụ đảnh đầu rồi thì dùng ý chuyển là lúc đó là ánh sáng không à!

Cho nên, mỗi bữa sáng phải đứng ở ngoài trời chưởng dưỡng thanh khí, dùng cái chỗ này hít vô một lượt, là cái lúc đó những người làm Pháp Luân đầy đủ rồi mới làm được cái đó: đứng giữa trời, hít một hơi một, là hít vừa lỗ mũi và vừa ngay chỗ này, hai cái xuống một lượt một; làm ba lần mỗi buổi sáng như vậy, và đối với những người đã chuyển được trên bộ đầu mới làm được cái đó; còn chưa chuyển được bộ đầu, làm cái đó cũng vô ích thôi. Cho nên, chưỡng dưỡng thanh khí mỗi buổi sáng thì con người nó sẽ tươi nhiều.

Cho nên, cái Pháp Luân Thường Chuyển, nó tùy theo người mới tu, người tu lâu; người cố gắng, và người không cố gắng: người cố gắng, bảo đảm cái hơi nó sẽ dài hơn và con người nó sẽ khỏe mạnh, máu huyết sẽ điều hòa, khai thông kinh mạch.

BĐ6: Để rõ ràng hơn nữa, thì để nhận biết rằng cái hơi nó dài, mình có thể căn cứ vào thời gian được không?

ĐT: Không cần, bởi vì đâu có cần phải đếm! Đếm là động rồi; không cần đếm. Mà cái hơi mình bao nhiêu, ở trong đó nó bị kẹt chỗ nào, và nó sẽ mở chỗ nào, mình ý thức. Bởi, “Hồi trước tôi chỉ hít có tới đó thôi, mà bây giờ tôi hít thêm, nó mở thêm.” Bởi nó mở ở trong đó nhiều đường lối; Thất Tầng La Võng, bảy lớp gân, chớ không phải ít đâu, nó phải mở đều hết thẩy, mở cho đến nỗi khi mình làm Pháp Luân mà mình thấy nghĩa là luồng điển nó ra từ bàn tay, từ ngón tay của mình. Rồi mình hít vô, mình thấy cái hơi nó sáng trong lỗ mũi mình; cái hơi quần sáng trước mặt mình; rõ ràng. Đó! Cho nên, một kỳ công để giải tỏa trược khí trong những cái cơ giới huyệt năng trong cơ thể: có nhiều cái khuyết đang bị kẹt và mình phải mở nó ra.

BĐ6: Câu hỏi thứ nhì là về Thiền Định; thì khi vào Thiền Định, giữa các bạn đạo như con, có hai khuynh hướng: là sau khi ngồi khoảng một tiếng đồng hồ thì chân bắt đầu mỏi và nhức; thì có một số sẽ bằng cách là chuyển chân, rồi tiếp tục ngồi thiền; và số còn lại thì xả thiền, và bắt đầu làm lại từ đầu. Thì theo Thầy, hai cái khuynh hướng đó, cái nào tốt, cái nào xấu?

ĐT: Theo tôi thấy, đường đi mà muốn đi cho tới đích đó, không có xả; phải hạ lệnh là, “Mày hết nhức, hết đau, tao mới cho Mày đứng dậy!” Các Bạn sẽ chiến thắng nó; thử xem! Tôi là người đã chiến thắng rồI; còn hồi trước tôi ngồi mà nó đau như vậy đó, tôi trách ông Tư: “Cha già này chắc cho mình bại quá!” Nó như bại rồi; con người không còn nghĩa lý gì nữa, “Chắc chết quá, bại rồi, không thành công!” Rồi bóp, rồi trong này vừa bóp mà vừa trách ông Tư! Nói thiệt; tôi có gì tôi nói nấy.

Rồi sau cáI, tôi làm, tôi nói: “Bây giờ mình không chiến thắng, ai thay mình chiến thắng?” Ổng nói: “ Bạn phải thắng cái ngứa và cái tê của Bạn, Bạn mới biết đạo; chưa thắng được cái ngứa và chưa thắng cái tê là cái đạo của các Bạn không bao giờ có!” Nó ngứa đến nỗi mà cái mặt tôi nổi cục cục y như là cùi vậy đó; nó ra tới vậy đó: hồi trước, ăn nhậu, chơi bời; nó ra hết cái mặt; mắc cở, không đi đâu hết. Rồi xuống hỏi Ông Tư, Ổng nói: “Làm Pháp Luân thét nó hết;” sự thật ổng nói cái gì là có cái nấy. Tôi ráng tôi làm; nhưng mà đi, tôi phải thoa kem, kì quá; mà nó ngứa, ngứa khủng khiếp; ngứa tới lòng con mắt, ngứa lỗ mũi. Mà ổng kêu: “Chỉ niệm Phật, mà không có được gãi;” cái đó mới là khó! Ngứa là cái dâm tánh của con người: nó ngứa gì ngứa, cứ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” thấy ngộ; mấy bà già nói: “Nó điên rồi, nó điên rồi!” Ngứa, ngứa, ngứa, ngứa, cho nó hết ngứa! Mừng cáI, cườI; ngứa quá chừng, quá đỗi, ngứa không thể chê. Mà hết sức, căng mình mà ngồi chịu đựng. Rồi từ đó tôi liên tưởng nghĩ tới Đức Thích Ca “Ngứa, Ổng than thở với ai? Ổng ra rừng, Ổng ngứa, rồi Ổng than thở với ai? Thôi mình niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” tới đâu tới!” Thét, nó hết ngứa.

Cho nên, tôi chiến thắng được cái tê với cái ngứa, tôi ngồi ba tiếng đồng hồ như 15 phút; mà ngồi ghế đẩu chớ các Bạn còn ngồi cái này. Tôi ngồi ghế tròn vậy nè, ghế tròn có bây lớn, chớ không có bao nhiêu; thấy không thể ngồi được, mà ảnh vô xếp chân ảnh ngồi, ngồi luôn 3 tiếng đồng hồ! Tôi nghiêm khắc với cái thể xác lắm: bắt buộc phải làm; mà ăn cơm với nước sôi, hay là trái cà thôi, không có cho ăn gì hết. “Mình đã muốn tự tử, thì bây giờ cho mày ăn ít coi thử có chết không?” Không chết, nhưng mà nó hồng hào!

Thì bây giờ tại sao tôi ăn? Là bề trên cho tôi ăn đó; chớ hồi trước, tôi đúng giờ nó no à! Bây giờ cho tôi ăn để bắt tôi làm việc, chớ không phải cho tôi chơi. Thành ra tôi không có ăn mà đi xem cảnh, đi đồng đỏng như các Bạn được; không! Phải làm việc: Ngài dùng cái điển, và cộng trược điển với thanh điển, cộng để giải nhiều giới: ngồi đâu cũng phải xuất, phải làm việc; mở mắt, cũng xuất, cũng đi, cũng làm việc, không có giờ nào cho mình nghỉ ngơi được.

Cho nên, cái giờ tôi ngủ, là vừa nằm rồi là tôi phải đi rồi: cũng phải đi công chuyện, không phải ở dưới này mà an hưởng như hồi xưa. Mà một chặp là thức dậy, đầy đủ rồi; ngủ chừng một tiếng, một tiếng mấy là thấy khỏe rồi. Cái cơ tạng nó yên; rồi mới ngồi thiền lại; cũng bắt ngồi thiền, cũng bắt Soi Hồn, cũng bắt Pháp Luân, cũng làm đủ chuyện; nhưng mà làm ngắn giờ hơn hồi xưa.

Hồi xưa thì bắt buộc ngồi tới sáng luôn; hồi đó ngồi tới sáng luôn, để thử thách coi ma quỷ tới phá, bóp cổ, hại đủ chuyện; mà cứ việc ngồi một đêm tới sáng, mà muỗi cắn cũng thây kệ; cắn cả dãy cũng thây kệ; ngồi vậy ở trước nhà tôi; thì chỗ đó là hầm lù không à, muỗi nhiều lắm, ống cống dơ dáy lắm; tôi phải chịu: bộ phản đó có hai miếng ván đó, chớ có gì đâu.

BĐ6: Thì cũng trong cái nguyên lý đó, có một lần con cố gắng con chiến thắng cái nhức và cái tê đó.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Bằng cách là con Niệm Phật.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Con tưởng tượng như là Lục Tự Di Đà đó như là sáu cái chữ mà đánh vào cái chỗ nhức và tê đó.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Thì quả thật, sau một thời gian lâu thì chỗ đó nó êm.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Nhưng mà sau cái bữa thiền đó, hai chân con nó tê quá đứng không nổi luôn.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Thì mặc dầu mình cảm thấy êm và có thể ngồi lâu được.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Nhưng có hại cho cái sức khỏe của mình hay không?

ĐT: Không có hại. Chính tôi là người đã thắng, và anh tôi cũng đã thắng, bởi vì ảnh bắt chước tôi ảnh làm; thắng được, ảnh mừng quá. Tôi tính là tôi bại rồi, mà đâu có bại; sau đó là nhờ cái gì? Bây giờ Anh muốn hết tê, Anh nhờ cái gì? Ăn ít đi, ăn ít, nó không có tê; ăn ít là nó không có tê. Bây giờ như các Bạn đây, tu là phải tập nghỉ ban đêm, không ăn ban đêm; uống nước đồ vậy; lo tập coi, tuần lễ nó không có nữa, nó êm lắm, nó êm lắm! Chịu khó đi, hết sức là cái bao tử nó teo lại là cùng; không có sao, không có chết; nhưng mà ngồi thiền nó không có, không có bị tê.

BĐ6: Thưa Thầy….(nghe không rõ - 27:00)

ĐT: Hả?

BĐ6: ……(nghe không rõ) ngồi ba giờ không thấy mỏi.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Mà lúc ăn vô no, mới hai giờ, thấy nó tê rồi.

ĐT: Không được, ăn vô không được! Anh phải bớt; bởi vì chừng nào mở ở trên này rồi, ăn không có sao: mình vừa ăn, vừa giải; nó làm kịp thời. Còn hỏi, bây giờ Anh ăn vô, chờ cái ngày ngủ đồ, này kia kia nọ, lâu lắm nó mới giải lên bộ đầu. Thì mình phải ăn ít, mình mới ngồi được lâu. Mà khi nó thông rồi, thì mình vừa ăn vừa giải được rồi.

BĐ7: Thưa Thầy, mấy ông bên Pháp có chỉ là khi mà Thiền Định rồi mà nó bắt đầu tê, thì thở một cái Pháp Luân cho thiệt là sâu, thì nó sẽ hết tê. Con có áp dụng như vậy, thì con thấy thở một cái thiệt sâu, thì nó chạy xuống tới chân mình rút lên luôn, hết tê.

ĐT: Cái đó là Chị được nhẹ mới vậy; chớ mấy người kia, kêu thở xuống, cái nó ép đau, họ la làng (cười). Những người đã tu lâu thì được, có thể dùng ý đó chuyển được, và những người ăn chay, ăn ít không sao đâu, nó không có tê đâu, ăn ít nó không có tê.

BĐ8: Kính thưa Thầy, như lúc trước thì con, thời còn trẻ con chạy xe, cũng như xe đua. Con té nhiều quá.

ĐT: Ừ.

BĐ8: Mà lúc đó còn khỏe, nó không đau cái chân; nhưng về già rồi, nó ép-phê.

ĐT: Ừ.

BĐ8: Làm như cái nghiệp. Thì lúc trước con có thể ngồi được hai giờ; nhưng lúc sau tự nhiên ngồi tới một giờ là thấy bung rồi! Như vậy có thể là con đóng cái ghế, lấy cái chân cột vô được không?

ĐT: Không có! Thì bây giờ Anh về Anh ăn Hải Sâm á: thiếu cái chất nhớt trong đó nó đau thôi, không có gì hết; bớt tình dục, ăn Hải Sâm là nó hết.

BĐ8: Thưa Thầy, câu hỏi thứ hai là: tại sao mà có lúc vô niệm Phật, chưa nguyện nữa là quên hết à; không có biết mình sẽ làm cái gì, Nguyện, Soi Hồn, hay Pháp Luân, Thiền Định nữa.

ĐT: Cái đó tốt, cái đó tốt, Anh nên bình thản như vậy để nó đi lên học đạo: nó càng ngày trụ hóa rồi nó tiến lên.

BĐ8: Con tưởng con quên hết à nó rơi vào tình trạng rắc rối chớ.

ĐT: Không có rắc rối đâu, nó nhẹ.

BĐ8: Dạ, cám ơn Thầy!

ĐT: Nó nhe. Cho nên, cái của Anh là cái đầu gối đó, Anh phải coi chừng vấn đề đầu gối: là phải ăn cái Hải Sâm cho cái đầu gối nó bớt; nấu cho thiệt rục, ăn nó bớt, nó mau lắm.

BĐ7: Thưa thầy, khóa này là khóa huấn luyện đặc biệt mà không dám nói ra.

ĐT: Cứ nói đại đi! Tới giờ là tôi bỏ tôi đi, không nói.

BĐ9: Kính thưa Thầy, tại vì con nghe nói là Ngài Địa Tạng là con gái? Nhưng mà tu một thời gian, đến cái ngày mà Ngài đã đạt được đạo rồi thì Ngài cũng là ngang hàng với lại Dương.

ĐT: Người ta tu về cái Tâm Phật, thì như nhau chớ có cái gì đâu. Tui nói ý chí đàn bà với đàn ông, một thứ à.

BĐ9: Dạ, hồi nãy thì con nghe nói là tại đàn bà nghiệp lực quá, nó giảm xuống.

ĐT: Nghiệp lực là nó giảm trong cái thể xác thôi, chớ cái ý chí cũng vậy à!

BĐ9: Dạ.

ĐT: Ý chí Chị đâu có thua ai! Nhưng mà cái xác thôi: Chị phải ôm lấy cái khổ đó mà để thức tâm lo tu; Chị thấy chưa?

BĐ9: Dạ; con cám ơn Thầy!

BĐ10: Thưa Thầy, Thầy chỉ dạy cho con, con có coi cuốn “Luân Hồi Du Ký,” à chắc có lẽ “Luân Hồi Du Ký,” Phật Tế Công nói: “Trong cái cơ thể chúng ta có con chó, mà chúng ta không ăn, mà chúng ta ăn thịt chó làm chi?” Là cái đó là cái gì, Thầy?

ĐT: Con chó, có chớ; con chó điên á, ai cũng có con chó điên; nó ở chỗ yết hầu này.

BĐ10: Con có coi cái cuốn…

ĐT: Con chó điên nó mới về Trời.

BĐ10: Dạ.

ĐT: Mà mình diệt nó được, mình ăn là diệt nó được, là mình về Trời.

BĐ10: Dạ.

ĐT: Con chó điên hay cãi; diệt nó được rồi là về Trời. Cho nên, ông Tế Công ăn chó điên chớ không phải chó không điên đâu; ổng ăn chó điên, ăn con chó này.

BĐ11: Thưa Thầy cho con hỏi: hồi nãy Thầy có nói là Pháp Luân Thường Chuyển là ánh sáng vô như đèn néon.

ĐT: Ừ.

BĐ11: Mà con xin hỏi Thầy, cái đó nó gián đoạn vào thời gian nào, hay là nó liên tục khi những người đã đạt được cái đó rồi, thưa Thầy?

ĐT: Đạt được cái đó là liên tục.

: Nhưng con, có thời gian nó vô như vậy; nhưng mà ánh sáng nó mờ hơn; mà con được một, hai lần rồi thôi à, hết luôn.

ĐT: Bớt ăn đi nó mới trở lại.

BĐ11: Cảm ơn Thầy!

ĐT: Bớt ăn nó trở lại. Bởi vậy, tại sao? “Ma nhất trượng, Phật nhất xích?” Tối nhiều hơn, mà sáng ít hơn, thì tại đồ ăn chớ không có gì hết; nó làm chưa xong, phải không? Rồi bây giờ mình bớt cái, nó sáng hết! Cho nên, người tu mà người ta tham thiền ở một chỗ, người ta không có ăn nhiều đâu: một chút là đủ rồi, để người ta giữ cái ánh sáng. Ngày ăn ba bữa mà còn la đói bụng nữa. (cười)

BĐ5: Dạ, con có câu hỏi này, con xin mạo muội hỏi Thầy;

ĐT: Ừ.

BĐ5: Cái dục đó, theo như con biết thì cũng là đặc tính của Thượng Đế; ở trong con người thì cũng có dục.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà cái dục theo như thế này: Nếu mình dục trong xác thể, nhưng mà cái ý chí của mình không có bị dục.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì có thể gọi là “Dục” hay không?

ĐT: Cho nên, cái thể xác mà dục là nó liên hệ, và nó lôi cuốn cái ý mình từ cái thanh trở nên dục. Còn người mà xuất ra, thân ngọai thân rồi, thì thể xác dục là chỉ cho điều hòa chớ họ không nghĩ tới dục. Còn người ở thế gian mà cái hồn còn giam trong thể xác, nói, “Tui mà bây giờ tôi nghĩ chuyện tu, và tui không dục,” cái đó liên hệ là một, nó liên hệ là một. Còn người mà thân ngoại thân rồi, người ta điều hòa, nhưng mà cái điều hòa nó khác. Cái dục nó khác: không phải dục như ở thế gian, Hồn, Vía tương hội dục, nó cũng vậy, nó cũng sung sướng vậy, nó cũng thoải mái vậy, nhưng mà mặt mày nó tươi, thể xác nó không có bị suy yếu.

Còn người phàm lấy cái thể xác, thì tạo cho cái Hồn bị mờ luôn, hai cái nó đang bị kẹt; cũng như cái Hồn mà ở trong cái khám bị dột, thì cái Hồn đâu có yên. Còn người ta Hồn Vía tương hội rồi, người ta dục tự nhiên, càng ngày càng tươi à. Hồn Vía tương hội càng ngày càng tươi, càng thông minh thêm, sung sướng vô cùng, không có cái gì hết. Cho nên, nhiều người tu mà tới nó nhiếp cái con trê rồi, nó thấy nó sung sướng lắm: Hồn, Vía tương hội, nó sung sướng ghê lắm, “Lưỡng Nghi hợp nhất,” nó sung sướng ghê lắm. Cho nên, đừng có nói là “Cái ý tôi riêng, nhưng mà cái xác đâu có ăn chung gì!” Vẫn hại tự nhiên! Thử làm coi: cái cơ cấu, cái trường học để mình ngồi học, mà mình phá hoại cái trường học, là không có chỗ tiến, không có chỗ tiến đâu! Cho nên, vợ chồng đều giới hạn: cái nhân đạo giữa vợ chồng, không có cấm, vì giới hạn, tự nó giới hạn automatic; hồi mới cưới thì khác, mà lâu rồi tự nhiên automatic, nó giới hạn. Đừng có bày rằng lấy cái dục mà đi trao cho người khác nữa, là mình hại; phải không? Cái nhân đạo của ông Trời không có cấm: vợ chồng mà; mà vợ chồng nó luôn luôn tự nó giới hạn: hồi ban đầu mới cưới thì đòi hỏi dữ lắm, nhưng mà một thời gian rồi, nhiều khi hai, ba tháng không ngó nhau, cũng có nữa; tự nó automatic, nó giới hạn, nó điều hòa.

BĐ12: Thưa Thầy, con có cái câu hỏi: con có nghe cái cuộn băng của Anh Nguyễn Huỳnh Chung ở bên Mỹ.

ĐT: Ừ.

BĐ12: Ảnh hướng dẫn về cái phương pháp công phu, thì Ảnh nói: "Nếu mà Bạn ăn nhiều, ví dụ như một ngày ăn ba bữa, thì Bạn nên làm Pháp Luân Chiếu Minh ba lần”.

ĐT: Ừ.

BĐ12: Thì, so sánh cái đó với lại ý của Thầy khuyên hồi nãy, là Thầy khuyên là nên ăn một bữa thôi; thì hai cái thì nên làm cái nào?


ĐT: Đối với người tu mà nhẹ, làm việc rãnh rỗi, và không có đi lao động nặng, nên ăn một bữa nó mau hơn .

BĐ12: Dạ.

ĐT: Mau nhiều lắm! Còn ăn ba buổi, mà làm Pháp Luân ba lần, nó cũng mau: nó có cơ hội giải. Cho nên, những người đi lao động, ăn một ngày ba buổi, “Tôi làm Pháp Luân Chiếu Minh ba lần, tôi cũng có sức khỏe vậy; và cái đạo tôi cũng tiến!” Phải không? “Vì tôi lo giải nó, và tôi không có cho nó hoành hành. Tôi đi, bắt nó đi theo thiên ý, thay vì tự động nó phát triển; tự động nó phát triển nó đem vô tình dục!” Còn đàng này bạn hít thở, hít thở, thì đem nó ra một mớ rồi; phải không? Đem nó ra một mớ rồi.

BĐ12: Cảm ơn Thầy!

ĐT: Ừ.

BĐ3: Thưa Thầy: “ Tinh, Khí, Thần”, tinh của người đàn ông là tinh dịch; còn của người đàn bà, là cái gì, Thầy?

ĐT: Cũng vậy thôi, nó cũng có chất tinh vậy, cũng có chớ.

BĐ3: Có phải là noãn không?

ĐT: Đó, cái noãn, nhớt của nó là tinh đó, một thứ, cũng vậy! Nếu mà không có chất tinh, làm sao cái xương nó sống được; thấy không?

BĐ13: Con thấy khi con mà Pháp Luân càng nhiều, con có muốn ăn nhiều cũng không được nữa, Thầy; ăn một chén là mắc no rồi.

ĐT: Phải rồi, thở Pháp Luân đầy đủ là mình ăn được thanh khí điển, ăn trực tiếp thay vì gián tiếp. Cho nên, chị Thuần ở bên Canada, chị không có ăn ban đêm nữa, chị quen rồi; khi mà ăn, một, hai trái nho đồ vậy, chơi vậy thôi, còn không có ăn cơm nữa; nó quen rồi, nó hết đói. Mà y ngồi 4-5 tiếng đồng hồ, ngồi 4-5 tiếng đồng hồ được đó, không có sao hết, không có tê.

BĐ14: Còn mười phút nữa, quý vị mà không có gì để hỏi, thì để Thầy nghỉ để ngày mai tiếp tục.

ĐT: Bây giờ về lo đi ngủ, để khuya coi thử có nhận được cái gì, có măng-đa hay là money order? (cười)

BĐ5: Xin phép Thầy, cho con hỏi thêm một câu nữa; cái này là một cái hiện tượng khoa học.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Mà bởi vì con cũng có đi học, thành ra cũng muốn biết coi sự liên hệ giữa khoa học hữu hình và khoa học vô vi nó như thế nào? Đó là cái hiện tượng sao chổi Haley, nó sẽ xuất hiện trong cái vòm trời của Quả Đất.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì đó là một cái sự kiện về khoa học.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì người ta tính toán như thế nào đó, theo cái chu kì như thế nào đó, nó sẽ trở lại.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà về phương diện Khoa Học Vô Vi của Pháp Lý Vô Vi chúng ta, sẽ hiểu cái đó như thế nào, Thầy?

ĐT: Cái đó là chuyện ở dưới này mà! Của bên thiên cơ, nó sẽ có những cuộc biến chuyển của bên khối Địa Tiên, chớ không phải tu Vô Vi; đâu có mắc mớ Vô Vi về cái chuyện đó đâu! Cái đó khối Địa Tiên nó phải có cuộc thay đổi; mà nó ra lộ liễu như vậy thì có thay đổi chánh trị cả thế giới; cái đó là bên mấy ông Địa Tiên ổng rành hơn; tui nói dóc chơi vậy thôi chớ không có gì. (cười)

BĐ5: Dạ thưa Thầy, ở trong phần định nghĩa về “Huyết” trong phần Kinh A Di Đà, nói như thế này: “Huyết là một chất lỏng, trong chất lỏng ấy có điển lộn vào, tung hơi nóng ra, bản thể con người nhờ khí điển ấy mà hô hấp hơi thở ra, vào nơi trần thế”.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Xin Thầy giải thích rõ cái phần này, là cái điển mà lộn vào ở trong cái chất lỏng đó, thì cái điển này như thế nào?

ĐT: Cái đó dễ ợt à: Anh cắt miếng thịt heo, lúc Anh cắt ra thấy nó đỏ, ha? Có máu chớ gì nữa! Mình bỏ ở đó một chặp, là nó bầm à: cái điển nó ly khai rồI; Anh thấy cái điển không? Cái điển của miếng thịt heo nó ly khai rồi: cái huyết, máu đó, cái huyết nó bầm ra.

BĐ5: Phải chăng cái điện ở đây là dưỡng khí, hả Thầy, đó là oxygen chăng?

ĐT: Ờ, đó là oxygen đó.

BĐ5: Vậy thì đúng như của con nghĩ.

ĐT: Cho nên, khi mà chúng ta cắt miếng thịt, liệng, một chặp nó hết tươi à: cái phần thanh nó đi ra, cái điển. Rồi bây giờ, bây giờ về cây cỏ, tại sao cây cỏ có thể lớn được? Nó nhờ cái điển nó mới lớn được; không có điển nó không lớn: cái điển siêu nhiên có nó mới lớn; hoa quả, cây cối lớn cũng nhờ cái điển; chớ không phải tự nó lớn. Cho nên, mình tu ở đây là nói rằng tự tu tự tiến: ngâm cái chỗ này cho cái điển nó trụ ở đây, thì mình sẽ được thừa tiếp ở bên trên rút; ở trên là thường trực ân độ cho chúng ta, cho nên rút chúng ta đi lên được.

BĐ12: Dạ, chúng con xin cảm ơn Thầy đã dìu dắt chúng con trong suốt ngày nay.

ĐT: Thôi bây giờ, thành thật cảm ơn bạn đã cho nhiều câu hỏi. Chính tôi cũng đã học không ít. No nê rồi tôi đi ngủ.

[kết thúc ID# 19860100Q1]

ID# 19860100Q2

KHOÁ HỌC KINH A DI ĐÀ: Vấn Ðạo - Cuốn B -

BĐ1: Kính thưa Thầy cho phép con hỏi;

ĐT: Ừ.

BĐ1: Cái phần thực hành “Nam Mô A Di Đà Phật” đối với con rất là quan trọng, không những cho con, riêng con thực hành, mà nếu có dịp, con dắt dẫn bạn bè hay những người nào con quen biết sau này thực hành.

Con thấy trong cái băng Thầy niệm, “Nam…, Mô.., A…, Di…, Đà…, Phật…;” là hết cái hơi đó Thầy mới hít không khí vô Thầy thở; Thầy bắt đầu Thầy niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” nữa? Hay là, bởi vì con theo cái băng của Thầy đó, con thở không kịp; bởi vì hết một hơi con không thấy Thầy ngừng, mà sao Thầy lại niệm nữa? Và làm như là Thầy không có đuối hơi?

ĐT: Cho nên, mình có hơi,

BĐ1: Dạ.

ĐT: Mình không phải là… người hơi yếu thì họ niệm, họ hít. Cũng như tui đó, tui hít vô này, hít vô một hơi này, tui niệm dài lắm: Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật. Nó dài vậy đó.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Nó tuỳ cái Pháp Luân Thường Chuyển của mỗi người; và mọi người người ta, nhiều người người ta còn ít, yếu, thì người ta đọc một hơi người ta hít một hơi.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Ờ. “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật;” không phải là mở miệng đọc;

BĐ1: Đúng rồi!

ĐT: Dùng ý niệm.

BĐ1: Dạ, dùng ý niệm; nhưng mà;

ĐT: Ờ. Cái này là tui muốn đem cái điển tui đóng góp cho các bạn để các bạn ngồi thiền, và để cho Lục Căn Lục Trần nó nghe, và trong này nó dùng ý niệm.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Anh hiểu không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Chớ không phải là bắt các bạn niệm như tôi. Các bạn mà niệm như tôi thì các bạn hụt hơi rồi; đâu có được!

BĐ1: Bởi vậy, con theo có một hơi, con đuối rồi!

ĐT: Đâu có được! Vì mình ý niệm, làm sao niệm ra miệng được?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Có dặn rõ trong cuốn băng.

BĐ1: Không, không phải. Con niệm bằng ý niệm,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Nhưng mà cũng phải có thở cái hơi.

ĐT: Cũng phải thở chớ; phải thở chớ!

BĐ1: Mà con theo một hơi là con đuối rồi! Sao không thấy Thầy thở?

ĐT: Ờ. (cười) Có chớ! Dùng ý; nó phải thở chớ! Đâu có phải mở miệng.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Mở miệng đó là để nhiều người đi làm lụng về, ở hãng bị người ta kỳ thị đồ, người ta chửi, người ta mắng, buồn bực; về, vặn cái đó ngồi nghe một chặp cái nó quên cái chuyện giận thằng kia đi; thấy không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Rồi để mình ngồi, ở trong này cái ý mình cứ niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” mình tu. Vậy đó.

BĐ1: Dạ. Thưa, câu phụ thứ hai: nếu những người già cả mà họ không có niệm được một câu dài như vậy,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Mà họ muốn tập trung trên đỉnh đầu,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Họ có thể họ mở băng của Thầy ra họ nghe,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Rồi họ trụ trên đỉnh; được không?

THẦY: Ừ, vậy là họ tập lần;

BĐ1: Dạ.

ĐT: Kêu họ tập lần cái ý họ.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Bởi vì cái người ý niệm nó khó lắm; tập hai, ba tháng nó mới có được;

BĐ1: Dạ. Để họ tập như vậy.

ĐT: Chớ không phải dễ đâu.

BĐ1: Họ tập như vậy rồi họ cứ trụ trên cái ý, cái ý họ niệm thôi;

ĐT: Ừ.

BĐ1: (nghe không rõ), chớ cũng không sao. Vấn đề thứ ba; hồi sáng con có nghe Thầy nói là khi mình có điển, mình muốn, à! Thâu hút đối phương, bằng cách mình nhìn, mình nhìn họ để mình cảm hoá họ. Vậy trong lúc mình nhìn, mình có điển thì mình mới cảm hoá họ đựơc?

ĐT: Khi mình Soi Hồn đầy đủ nó trì nặng ở đây (chỉ giữa hai chân mày),

BĐ1: Dạ;

ĐT: Thì mình dùng cái chỗ này (chỉ giữa hai chân mày) mình ngó thẳng cái Tam Tinh của họ. Cái này với cái này nó bắc cầu với nhau (chỉ giữa hai chân mày của Thầy và của b/đ).

BĐ1: Dạ; ngó Tam Tinh của họ?

ĐT: Ngó Tam Tinh họ thôi;

BĐ1: Dạ;

ĐT: Và ngó Tam Tinh họ một chập rồi cái mình mới nói chuyện; vừa nói, vừa ngó Tam Tinh, vừa niệm Phật. Đó.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Độ cho bệnh nhân.

BĐ1: Dạ; mình niệm Phật.

ĐT: Con nít cũng vậy.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Tốt lắm;

BĐ1: Dạ;

ĐT: Cái điển mình phóng qua thì để nó chuyển vô chỗ đó rồi nó mới chuyển cho đối phương.

BĐ1: Dạ; Như vậy cũng gọi là “Tiếp điển” nữa đó hả thầy?

ĐT: Ờ; tiếp điển; tiếp điển mà không có ai biết hết.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Mình chỉ tới thăm người bịnh, mình ngó, mình niệm Phật; “Anh bữa nay sao? Bệnh hoạn thế nào?” Họ khai làm sao, mình cứ ngó đó mình ý mình niệm Phật, ngó thẳng qua.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Không có rờ mó gì hết, nhưng mà mình đã chuyền điển rồi.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Trong lúc mà nó, người Soi Hồn đủ lực lượng rồi mới làm được.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Còn dùng cặp mắt này không được.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Dùng cái ý này,

BĐ1: Dạ.

ĐT: Ngó thẳng.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Cho nên, cái ý mà mình làm Chiếu Mình này nè, nó quen rồi đó, thì mình dùng cái ý mình chuyển cho người bịnh; dễ lắm.

BĐ1: Dạ. Còn cái tiếp điển như Thầy tiếp, thí dụ chẳng hạn không cần đối phương ở ngay mặt Thầy, ở bất cứ phương xa nào Thầy cũng tiếp được, cái đó là chuyển?

ĐT: Ừ, cái đó khác! Cái đó phải làm việc ở một cái office khác.(cười)

BĐ1: Dạ;

ĐT: Anh thấy cái vệ tinh nó lên cao không?

BĐ1: Dạ;

ĐT: Mà ở bên Mỹ nó gởi một cái thì bên này mình nghe, “A lô?” nói chuyện. Gần xịt; mà lên cao chừng nào thì gần chừng nấy.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Ờ. Cho nên cái máy bay mà bay cao thì nó rút ngắn thời giờ hơn.

BĐ1: Dạ, kính cảm ơn Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ2: (nghe không rõ) Theo con nghĩ, hồi nẫy, sau câu hỏi của Anh Phương đó thì điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống, mà có nhiều người nhận được cái điều đó, là phải không Thầy?

ĐT: Đúng; chính Thượng Đế xuống mới khóc;

BĐ2: Thì như vậy Anh Chị Em trong khoá tu học này tự cảm nhận được luồng điển của mình;

ĐT: Cái giọng nói cũng khác rồi.

BĐ2: Dạ;

ĐT: Ông này là ổng nhõng nhẽo với Thượng Đế là ông này. Thượng Đế thương dữ lắm, thành ra mới khóc!

BĐ2: Theo con nghĩ, (nghe không rõ)

ĐT: Cái giọng nói khác.

BĐ2: (nghe không rõ)

ĐT: Ừ. Giọng nói khác!

BĐ3: Thưa Thầy, nghe Thầy nói chuyện về Tiên và về cõi trên, con thấy thanh nhẹ và thấy rất là thoải mái;

ĐT: Ừ.

BĐ3: Nhưng mà con muốn hỏi Thầy một câu: Thầy nói “Pháp Lý Vô Vi,

ĐT: Ừ.

BĐ: “’Pháp Lý,’ là biết chơn lý tròn đầy và sự thật trong đó.”

ĐT: Ừ.

BĐ3: Do đó mà con nghe Thầy rất nhiều và con tỉnh ngộ rất nhiều, con cảm thấy rất là cởi mở rất nhiều. Nhưng mà có một điều, có một vài điều con cũng thấy là chưa được trọn vẹn. Như ngày hôm qua, Thầy giảng, Thầy có nói về Quan Thánh Đế Quân; rồi sau đó Thầy có nói về Tôn Ngộ Không, là cái chuyện thần tiên con thấy nghĩa là rất vui và rất thích nghe.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Cái đó, theo con biết á, thì khi mà Tam Tạng đi thỉnh kinh đó thì trong lịch sử của Tàu chỉ có nói về Tam Tạng thôi, chớ không có nói đến Tề Thiên hay là Bát Giái gì hết. Nhưng mà con biết cái chuyện Tây Du là của một cái người đã, về Phật Giáo, đã viết ra, và đó là một cái chuyện hoàn toàn giả sử; theo con nghĩ thì không có thật, nếu có thực thì lịch sử của Trung Hoa đã ghi vào trong lịch sử. Do đó mà con nghĩ rằng không có thật, và trong chuyện đó thì có nói đến Tề Thiên; và trong cuốn “Thiên Đàng Du Ký” thì cũng có nhắc đến những vị Tề Thiên là Tôn Ngộ Không; rồi trong một vài cuốn băng thì Thầy có nói về cái Tề Thiên. Thì con không biết rằng cái Tề Thiên nhân vật đó là có thật hay không? Như vậy xin Thầy xác nhận cho con biết.

ĐT: Cái đó có chớ; có chớ. Nhưng mà Anh cũng đang nối, nối chưn Tề Thiên đó:

BĐ3: Dạ;

ĐT: Anh đi học cái Không đó, để ngộ Không; Anh đi theo Vô Vi là Anh học cái Không.

BĐ3: Dạ.

ĐT: Ở đời thì Anh thua lỗ thiệt nhưng mà Anh sẽ ngộ Không. Anh hiểu không?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Anh ở thế gian Anh hoành hành đủ mưu kế hết nhưng rốt cuộc không làm gì được, thì Anh phải ‘Ngộ Không” Anh mới kêu bằng, “Giải thoát.”

BĐ3: Dạ thưa Thầy,

ĐT: Có chớ.

BĐ3: Sao trong cái chuyện nó nói thì,

ĐT: Không, mà, chính Ngài bây giờ, nghĩa là, ở ngay ở Hồng Kông mỗi năm mà Anh có dịp Anh đi đầu năm rằm tháng Giêng Anh qua Hồng Kông chơi thì thấy ông Tề Thiên Ổng xuống, nhập xác xuống cho Anh coi! Một cách làm cho khoa học điên đầu và không biết cách nào hết.

Ổng xuống là Ổng đi ngang lửa và Ổng đốt rần hết, đi ngang lửa; rồi ổng bước lên cái dao, những cái dao bén thiệt bén lật ngược vầy này, Ổng bước Ổng đi lên Ổng ngồi, rồi đệ tử của Ổng cùng chạy một hơi một với Ổng; mà những người đệ tử đó là hồi nào tới giờ không biết tu không biết cái gì hết, nhưng mà cái chưn y không có bị phỏng; mà khi Ổng chạy là mấy chục người chạy theo vậy đó; mà mấy chục người kia, Ổng đứng lên một cái là chạy theo vậy đó! Phim quay đàng hoàng mà!

BĐ3: Dạ, con biết như vậy, nhưng mà theo con biết cuốn sách đó viết ra thì là một cái nhân vật giả sử. Sao ông đó lại viết ra một cái nhân vật Tề Thiên có thật để mà viết ra? Con muốn là,

ĐT: Có chớ, có thật chớ! Có chỗ Tam Tạng Thỉnh Kinh chớ! Anh muốn thấy lịch sử Tam Tạng Thỉnh Kinh không?

BĐ3: Trong lịch sử thì không có nói đến cái Tề Thiên,

ĐT: Có chớ. Cái chỗ của Tam Tạng đến hiện tại bây giờ Trung Quốc người ta mới kiếm ra, bữa nào Anh muốn, mua phim coi. Người ta đi, khảo cổ đã tìm ra rồi.

BĐ3: Nhưng mà,

ĐT: Anh chưa thấy đó thôi.

BĐ3: Cái mà Trư Bát Giới và cái Sa Tăng đó, chuyện đó thì lúc còn nhỏ con rất thích; nhưng mà con không biết là cái chuyện đó có thật hay không; con thấy cái chuyện đó có vẻ là vui quá!

ĐT: Có chớ.

BĐ4: Thưa Thầy, con có đọc trong một cuốn sách nào đó,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mà con không nhớ rõ,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Thì thường thường đó, người thế gian cho là, những người mà có ý gì, ý dân thì là ý Trời,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mà tất cả trong tập thể quần chúng mà có cái ý niệm gì đó,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mặc dầu cái ý niệm đó trừu tượng,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Thì cái Trời, mà Trời cõi dưới đó, cũng có thể tạo dựng, nhờ cái ý lực đó, có thể tạo dựng nên một hình ảnh, mà dầu là giả tưởng, nhưng mà nhiều người tin như vậy đó, thì nó có thể tựu và tập họp lại thành một cái hình ảnh thực sự.

ĐT: Ừ;

BĐ4: Đó. Thì con nghỉ, đọc cái điều đó, mà không biết là, như vậy có thật như vậy không?

ĐT: Có chớ; tất cả đều có hết; có tưởng nó có tượng. Như Anh nói cái đó: “Có tưởng nó có tượng.” nhưng mà cái cõi trên có. Anh ráng tu đi, rồi Anh đi lên trên đó, Anh nói, “Muốn uống nước,” mà chỗ đó làm gì có nước? Mà có cái tách nó bay tới cho Anh; Anh thích nước trà, nó có nước trà nóng hổi cho Anh uống. Nếu Anh bước vào bậc tiên gia thì Anh khỏi phiền mà đi tìm ly nước đâu! “Tôi muốn uống nước,” là nó phải có cái ly tới. Anh thấy không?

Lấy cái gì chứng minh ở trên đó nó nhẹ nhàng như vậy? Ở đây, Anh làm cấp tổng thống đi nữa, thì Anh muốn uống nước, nháy mắt thì người ta phải đem ra rồi. Mà Anh đi làm cu ly đó, Anh muốn uống nước, nó khó lắm, Anh phải đi múc à!

Khổ hạnh rồi nó mới có cái trình độ; ở cái giới đó nó được hưởng cái mau lẹ đó mà phải làm việc nhiều hơn, đi họp này, đi họp kia, đi họp nọ. Chư Tiên đi họp hoài, không ngừng nghỉ; làm việc dữ lắm; nhưng mà muốn gì, có nấy: thì bây giờ Anh đi làm ở trong cái cơ sở, trong cái office của giám đốc cũng vậy; nó nhẹ hơn là cái ông gác kho; Anh thấy không? Nó khác à!

Cho nên, cái trình độ tu học trình độ không mua không bán; mọi trình độ khác nhau: trong cái tưởng nó có cái tượng; cũng như Anh Phương nói rồi đó, “Trong cái tưởng nó có cái tượng,” nhưng mà rốt cuộc tu về đạo nó khác; tu về đạo, Anh phải gọt rửa tới vô hình, vô tướng, Anh mới giải nghiệp; Anh còn hình, còn tướng, thì còn nghiệp; thấy chưa? Cho nên, phải cố gắng tu mới được; “Vô hình vô tướng” thì Anh làm việc nhiều hơn, ứng dụng bất cứ hoàn cảnh nào, nơi nào Anh cũng tận độ được; thì Anh phải làm việc nhiều hơn, gấp triệu lần lúc Anh còn ở thế gian.

BĐ4: Dạ, đêm nay chúng con thật vô cùng hân hạnh;

ĐT: Ừ.

4: Qua Thầy, Thượng Đế đến với chúng con.

ĐT: Ừ.

1: Thì đây là một cái hồng ân rất lớn lao mà chúng con đã từng ao ước.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì chúng con cũng xin cảm tạ ơn Thầy; và cái buổi giảng giải hôm nay cũng đã hết giờ.

ĐT: Ừ. Cho nên, cái duyên của Thượng Đế ít khi đến; khi nào mà Ngài đến với tôi là phải khóc; vì hằng ngày tôi đi giảng, tôi hút bao nhiêu trược, và trong cái trược đó tôi phải giải hằng đêm; và sự lo âu của Bên Trên cũng là thường độ cho tôi. Cho nên, Thượng Đế khóc là khóc con Ngài vẫn còn ô trược nhiều lắm! Có bao nhiêu đó, mà phải rơi lụy. Tôi thấy ở đây học “Nam Mô A Di Đà Phật” nó hay hơn học cái khác.

Rồi bây giờ, cho tất cả mọi người muốn chọn học cái gì bữa nay; đã đọc qua cuốn sách nào? Đống sách này nè, bây giờ rút cũng như rút quẻ vậy đó; rồi ai giảng coi thử thế nào! “Bây giờ tôi muốn Địa Ngục Du Ký, hay muốn gì mà tôi lật cái trang đó đó, Ông giảng cái trang đó đi!”, để biết cái điển: cái điển là bất cứ trạng thái nào cũng có thể khai thác được hết. Rồi bây giờ chọn; người nào muốn cuốn nào, chớ Kinh A Di Đà đi sâu xuống, mà trình độ dưới này chịu không nổi học, học không hiểu.

Ai muốn chọn cứ lên chọn, và “Tôi lật, tôi chỉ cái này;” vậy thôi! Cuốn nào cũng được, để trong tâm người ta không có bày. Bây giờ người ta đứng dậy, người ta lấy cuốn nào đó, người ta chỉ chỗ đó, để học cho hiểu cái điển nó phục vụ mọi trạng thái, chớ không phải một trạng thái. Cho nên, ở thế gian nhầm lẫn, tưởng là ông Phật chỉ làm một việc thôi! Làm tất cả mọi việc! Thì không có bỡ ngỡ nữa, và biết giá trị của điển. Rồi, bây giờ Bác Mười chọn cái nào, chỉ cái chỗ đó.

BĐ5: Thiên Đàng Du Ký.

ĐT: Thì cứ việc lấy; đây, đây đây đây; Thiên Đàng mà bả nắm Luân Hồi thì phải lật Luân Hồi. Quẻ mà! Quẻ (cười)

BĐ5: Cho quay phim xít qua chút Bác.

ĐT: Chà! có xếp sẵn rồi đó, hay quá! có xếp sẵn; cái trang này ha?

(Thầy đọc hồi 30 trong Thiên Dàng Du Ký)

HỒI 30 - LẠI DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẮNG NGHE ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

(Lời minh luận của Thầy: )

Chà, sướng đó, cái này nghe hay à!

Phật sống Tế Công giáng ngày 23 tháng 10 năm 1979

Thơ bách tuế quan âm quý thiếu niên

Thanh sơn lục thủy lạc vô biên

Vân hà do khả đào nhân túy

Nhất giác hoàng lương học bát tiên

Dịch

Cuộc đời quý nhất tuổi thanh xuân

Nước biết non xanh đẹp bội phần

Chiều muộn mây trôi người túy lúy

Mộng vàng một giấc thoát, thành Tiên

Tế Phật: Tuổi thiếu niên học đạo dễ dàng thông đạt là nhờ trí tuệ minh mẫn, và vì chưa bị đời vùi dập nên ít nhiễm bụi trần ô trược, tính linh lại trong trẻo cùng phẩm hạnh thanh cao. Bởi vậy nếu thiếu niên biết lo tu, đạo lớn mau thành.

Tuổi trung niên học đạo khó khăn hơn, bởi thân bị gia đình sự nghiệp ràng buộc, kiếp sống nổi chìm, gông cùm tình ái, nhà ngục lợi danh nên vượt thoát chẳng dễ dàng, do đó khốn quẩn càng thêm khốn quẩn; cho nên, phải mất rất nhiều công phu mới giải tỏa nổi trận giặc mê hồn này vây bủa. Một sớm thoát được trùng vi hẳn là thành được Thần tự do, Tiên thoát tục và Phật tự tại.

Tuổi lão niên tu đạo càng khó khăn hơn bởi đường đời đã quá trải, nào như ăn nhậu, rượu chè, bài bạc, con hát thứ gì cũng đam mê. Tới lúc vãn chiều xế bóng, khí huyết suy nhược, tâm có thừa nhưng sức không đủ, muốn lên cõi trời bắt buộc phải tĩnh dưỡng.

Nếu như ngay lúc này thấy rõ được tình đời, lập định được chí hướng, quyết tâm vượt thoát nhà ngục nhân sinh, dù thắng hay bại thì cũng thấy được gương người bạn già tới lúc phải nhắm mắt buông tay, con cái tới tuổi trưởng thành mỗi đứa một phương.

Hiện thời cái còn lại để ôm mang chỉ là trái tim vắng lặng, triền miên nghĩ về quá khứ, cùng tưởng tới tương lai. khi phải vĩnh viễn lìa bỏ cuộc đời ra đi hẳn là lòng quá đỗi bàng hoàng. Do đó phải nghĩ ngay tới việc quyết chí diệt dục tu đạo, sửa đổi sai lầm, tu bổ tâm thân. Nếu như tinh tiến không lười biếng tất nhiên có thể thành Tiên Ông Tiên Bà. Trái lại nếu như phó thác cái thân già cho những tháng ngày còn lại thì tới lúc lâm bệnh sẽ hết nói năng. Bệnh một ngày một nặng sẽ vô phương cứu chữa.

Già mà không tu như đèn dầu trước gió có thể tắt bất kỳ lúc nào; một sớm ba tấc khí dứt đoạn, đường đi tới tối tăm, Địa Ngục hiện ra trước mắt; lúc đó hẳn là mọi việc đã quá muộn.

Bất kể kẻ già lớn bé đều là Phật; chớ bỏ phí sinh mệnh của mình, miễn là phải tuân theo luật lệ để không hại tới con đường tiến của kẻ khác, là có thể lên tới được thiên đàng.

Bữa nay ta lại hướng dẫn Dương Sinh dạo cung Đông Hoa, Dương Sinh mau lên đài sen chuẩn bị khởi hành.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, Bác Mười bắt cái đoạn này là trả lời cho bác Mười những thắc mắc trong thâm tâm của bác Mười, và Bác Mười đã thấy cái chiều hướng để đi tới. Chúng ta không còn đếm xỉa tới thất tình lục dục nữa, là dứt khoát lên Thiên Đàng. Phải cái quẻ không?

BĐ2: Mô Phật, dạ đúng vậy.

ĐT: Đúng y như tâm trạng của bác muốn; thấy không! Rồi, bây giờ chúng ta coi...

Dương Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: Việc hướng dẫn Dương Sinh khiến lòng vô cùng cảm động, chúng sinh vật lộn với cuộc sống hàng ngày cuối cùng chẳng rõ được vì ai cay đắng, vì ai gian nan? Có biết bao nghiệp chướng bắt chúng sinh phải đền trả, liệu chúng sinh chẳng lo lắng sao? Một sớm trách nhiệm trả xong đã không biết hưởng ơn phước đó, lại còn trác táng rượu chè, cờ bạc, tạo thêm nghiệp ác, nên chẳng lạ gì người đời tới lúc già nua mà vẫn còn khổ lụy. Thậm chí còn có kẻ trói buộc cho tới mãi kiếp sau, là bởi kiếp này chẳng lo trả sạch nợ nần.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, người đời không có pháp tu, làm sao biết mình mang nợ? Các Bạn có pháp tu, nay Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định. "Tối nay, tại sao tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định không được? Là tôi đang mang nghiệp. nghiệp nó tràn đầy, nó choáng cái chỗ phát triển tâm của tôi, thành ra nó dội trở lại, tôi làm không được. Mà đêm đó tôi làm được thì tôi thấy tôi có cái cơ tự kiểm soát được; đó là nợ nần tôi sẽ dứt khoát lần lần. Cho nên, các bạn tu, nay tu một chút, mai tu một chút, thấy là “Tôi phải buông bỏ!” Mà buông bỏ ở đâu? Bên ngoài, làm sao buông bỏ? Trong tâm chúng ta buông bỏ, chúng ta mới dứt khoát được!

Tế Phật: Người đời há lại cam tâm làm kẻ vô trách nhiệm ư? Ta nay xin truyền cho mọi người một pháp như sau: “Biết đủ thường vui mà lại quên sầu; nhàn nhã trong bận rộn thân nhẹ nhõm dễ dàng tu”.

(Lời minh luận của Thầy: )

Việc làm nào cũng chấp nhận làm, nghịch cảnh nào đưa đến chúng ta cũng hòa tan trong nghịch cảnh đó, thì chúng ta sẽ dễ dàng tu, ta nhàn hạ trong việc làm, không có bị kẹt nữa!

Tế Phật: Người đời hãy mau mau thí nghiệm bí quyết này, nhất định sẽ được sung sướng y hệt Phật sống này. Đã tới cung Đông hoa; Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, mỗi mỗi việc làm, sự suy tư chúng ta cảm thấy khổ, chúng ta hòa trong khổ thì chúng ta cảm thấy nhàn hạ; việc làm đưa đến chúng ta, chúng ta tưởng là nghịch cảnh? Không; chúng ta nên hòa trong việc làm đó: Chúng ta nên lắng nghe bất cứ một tiếng gì rúng động từ bên ngoài cho tới bên trong; chúng ta hòa tan với nó là chúng ta không còn bị mắc kẹt nữa, là mới thấy rõ giá trị của điển phục vụ tất cả: phục vụ nơi nơi và hòa với nơi thì mới kêu là nhàn hạ! Đó mới kêu là Phật Tâm, Phật tánh!

Chớ người phàm thấy: “Chu cha, tôi thấy cái này, tôi thích; cái kia văn chương không hay; cái nọ không tốt!” Không có cái gì không tốt hết! Tôi đã nói các bạn, bạn đi trên chiếc xe hơi không có con bù long, cái écrou nào không xài được! Chính bạn là người không xài được, chê hay khen mà thôi! Thì chấp nhận chính ta không xài được: chúng ta chưa chịu hòa; thì chúng ta muốn hòa mà chưa chịu hòa, là không được; phải hòa hẳn đi; dứt khoát đi mới có cơ hội quán thông!

Dương Sinh: Những lời ân sư than trời trách đất, người trên suốt dọc đường đã in sâu vào tâm khảm con. Thoáng cái đã tới trước cửa cung Đông Hoa. Cung Đông Hoa là thắng cảnh của cõi trời, khắp nơi đều chan chứa sức sống tươi vui, hãy vào trong cung lạy mừng và ra mắt Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy:)

Câu này nó nhắc Vô Vi những gì? Trước khi các bạn chưa tu, chưa hành thiền, thì các bạn thấy rằng nó tối, buồn bưc trong nội tâm; mà các bạn hành thiền rồi, nó thanh nhẹ, thì thấy cái hạnh từ bi bên trong nó bộc khởi: đó là cái cảnh vui tươi, tất cả đều rưới tươi trong nội tâm. Nhờ gì? Nhờ cái Pháp Luân Thường Chuyển, mà cái pháp thủy rưới tươi trong mọi nẽo hóc, tâm can của các bạn.

Đế Quân: Lành thay! đời sống ở thế gian đã phát triển tới mức cực thịnh, nhân loại lại đang nghiên cứu xem làm cách nào để cho đời sống con người được trường thọ. Người đời có câu nói: “Sống lâu bằng núi Nam Sơn”. Vậy thì núi Nam Sơn sống thọ được bao lâu? Hẳn là sỏi đá trên núi đó không bị hư hại, cây cối ngàn năm không chết. Người sống tại thế gian, nếu như giống ngọc đá bền vững trên núi đó, thì liệu có ích gì? Còn nếu sống xanh tươi như cây trên núi ấy thì hẳn là sinh mệnh được hưởng khí lành sớm mai, và nếu đem sánh thân đó với thân trần tục hẳn là sẽ rõ sự lợi ích như thế nào? Đây là lý do tại sao bữa nay đức Đông Hoa Mộc Công lại trình bày thêm về sự ích dụng của cây.

Các loại cây đều được thừa hưởng khí nguồn cội một cách sâu xa. Do đó, người đời đều có thể nhờ nó mà giác ngộ đạo lớn. Tôi không thể dùng lời nói nông cạn để truyền bá tinh khí Đông Hoa, giống như một cọng rau chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ mà có thể nuôi nấng được loài người. Một mẩu rễ cỏn con lại có thể cứu sống một sinh linh, cùng duy trì vạn vật dài lâu bất diệt.

Có thể thấy chỉ một lời nói ngắn ngủi thôi mà cũng có thể cảm kích vang động tới trời cao. Song sở dĩ chúng sinh không thấy được như vậy là vì chúng sinh không chịu nhìn nhận sự thật kỹ lưỡng mà thôi. Bữa nay Dương Sinh lại tới thăm cung Đông Hoa, duyên đạo thật là sâu dày. Tôi xin đem Dương Sinh đi thăm một thắng cảnh khác của Đông Hoa để tìm hiểu nguyên lai đời sống của con người và sẽ rõ tại sao lại có thể hoàn thành được sứ mệnh của trời giao phó, hầu giúp con người trở về được nguồn cội sinh mệnh của mình

Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã rủ lòng thương mà tận tình vun bồi chỉ giáo cho. Đệ tử xin hứa sẽ tận tình lắng nghe lời dạy của đức Đế Quân.

Đế Quân: Hay lắm, hãy đi theo tôi.

Dương Sinh: Đi theo đức Đế Quân, cảm thấy không khí nơi đây vô cùng trong trẻo và mát mẻ, những nổi sầu muộn nơi đáy lòng chỉ thoáng giây là tiêu tan hết, quả thực quá tuyệt vời.

(Lời minh luận của Thầy:)

Chúng ta tu Vô Vi, có nhiều người ngày hôm nay đã đạt được rồi. Khi thấy trong tâm ta sầu muộn mà nhìn cảnh, thoáng là chúng ta quán thông, và sự sầu muộn đó nó đi mất; là nhờ gì? Nhờ điển! Cho nên, Dương Sinh đi với cái gì? Với điển, mới được cùng đi với Tế Công: Luồng điển của Tế Công đã bao bọc và đưa vào đó, thì nhằm bước vào điển giới, thấy cái cảnh, ngộ được cảnh, tâm thức ngay; ngộ được cảnh, tâm thông cảm ngay. Cho nên, người tu Vô Vi phải đưa luồng điển lên trên bộ đầu, rồi từ thanh nhẹ đó chúng ta quán thông; mượn đời thuyết đạo, mượn đời quán thông nguyên lý nguồn cội.

Tế Phật: Màu xanh là thứ thần dược để biến khí và giải muộn; nó có thể dung hòa được sự khô khan cũng như ẩm thấp; cho nên kẻ yêu thích màu xanh đều là những kẻ trẻ trung hoạt bát. Cái lẽ đó quả là hợp lý đạo.

Dương Sinh: Khu vườn phía trước trồng đầy cây cối cùng hoa quả; mỗi thứ một giống, chẳng thứ nào giống thứ nào; muôn màu muôn vẻ khác nhau; mỗi cây đều có đính kèm nhãn hiệu viết rõ tên người; không hiểu ngụ ý như thế nào?

Đế Quân: Ha Ha, bữa nay tôi muốn vì người đời mà giải thích rõ sự mê lầm của cõi trần: những cây đó đều là nguyên linh của các thứ cây ở dưới trần gian: Đương thời Ngũ Lão sinh đẻ nuôi nấng các nguyên linh; Mộc Công tôi cũng chia sẻ một phần trách nhiệm. Nhân loại sinh ra đời là bắt nguồn từ cây cối và hoa cỏ.

Cây hướng “Dương” nên sức mạnh mẽ, đại diện cho nam tính; hoa hướng “Âm,” yếu đuối mau tàn tạ, đại diện cho nữ tính; chúng tượng trưng cho trạng thái nam, nữ sinh hoạt ở thế gian: chỉ cần thế gian đẻ ra được một đứa con trai, nguyên linh của cây liền nẩy mầm trên đất; nếu như sinh con gái, ắt nguyên linh của hoa cũng đơm nụ. Dưới trần nói “Rớt xuống đất”. Trên trời nói “Ra khỏi đất”.

Nguyên linh ban cho chủng tử, ở trần gian gọi là tinh và noãn. Trong lúc nuôi nấng thai nghén, bào thai cũng là lúc chủng tử được vùi trong đất; một sớm nẩy mầm cũng là lúc bào thai chào đời. Nếu như chủng tử ung thối, biến dạng hay bị tổn hại, thì bào thai cũng biến hình, chết trong bụng mẹ, hoặc bị đẻ non. Người và Trời mỗi cái hít hà đều có quan hệ hỗ tương: mỗi hơi thở đều có sự tương giao mật thiết; nguyên linh của các cây hoa trên trời đều có ảnh hưởng đến sự sinh đẻ, nuôi nấng, dạy dỗ, cùng sức khỏe của trẻ thơ dưới trần.

(Lời minh luận của Thầy:)

Đó, sự liên hệ của chúng ta là Tam Cõi, như tôi đã thường giảng cho các bạn. Các bạn không nên vội kỳ thị các bạn, và các bạn đề cao Thượng Đế, đề cao Phật, đề cao Chúa, mà quên bạn! Tất cả ở trong Bạn; mà các bạn chịu tu, chịu khai thác ra, thì Tam Giới là bạn. Cho nên, các bạn hiểu việc này, sự liên hệ không ngừng nghỉ: tâm chúng ta động thì Bề Trên đã ghi chép rồi. Nếu chúng ta làm sai mà tâm chúng ta hướng thiện, thì chư Phật chư Tiên cũng động, và hỗ trợ cho chúng ta tiến hóa.

Cho nên, sự tu hành không phải nhứt thiết mượn pháp này, mượn pháp nọ, mà nhiều người có tâm lành hướng thượng và biết được tam cõi, thì người đó cũng thành đạo và cũng về trời. Cho nên, chúng ta thấy rõ: ngày hôm nay vì chúng ta quá động loạn, ô nhiễm, rồi lần lượt tới tuổi già, không biết mình là ai. Cho nên, chúng ta mượn cái pháp để đào sâu và sử dụng khả năng sẵn có của chính mình để tìm lại thực chất của chính chúng ta: "Té ra nguyên linh của chúng ta hòa hợp với ba cõi Thiên, Địa, Nhơn rõ rệt, từ trên trời xuống thế gian: tâm ta động trên trời động.

Cho nên, một người biết tu thiền là làm hữu ích cho cả Càn Khôn Vũ Trụ. Sự liên hệ không ngừng nghỉ đó, sự thu phóng đem lại thanh giới truyền cảm cho các giới. Mà đối với người thiền mà biết tu hành tới thanh tịnh là quý biết là bao nhiêu, làm cho các nơi đều ổn định, thiên cơ được thuần thục và không có sự kích động nữa! Cho nên, người tu quan trọng.

Hôm nay Bác Mười chọn cái quẻ này để Bác Mười được thấu rõ, được hiểu được xác thân của Bác Mười là liên hệ với cả Ba Cõi, nhưng mà quá trình đã hao phí. Ngày hôm nay ăn năn sám hối và lo tu trở lại với sự chơn giác, cũng không là muộn: biết được đường đi, biết được khả năng sẵn có của chính mình, và tự sửa chữa, tự tìm con đường tự thoát, là cái điểm may cho Bác. Cho nên, Bác phải dứt tất cả thất tình lục dục tạm bợ ở thế gian không đi đến đâu, và chúng ta phải nuôi dưỡng cái phần tiến hóa không ngừng nghỉ sẵn có của chính mình.

Cho nên, Bác hôm nay được Bề Trên phúc đáp và dẫn giải thấu đáy tâm can, và ảnh hưởng tất cả bạn đạo: những người kế tiếp đây cũng sẽ đi tới cái tuổi của Bác; Bác đi trước, mọi người sẽ đồng đi, rồi chúng ta cũng đồng học; với tuổi trẻ chứa đựng không nhiều sự thổn thức, không có nhiều bằng Bác vì Bác xế chiều và tìm con đường đi. Cho nên, những cái câu giải thích trong này nó thấm thía với Bác, và Bác sẽ nhận đó mà tu.

Rồi, người nào muốn lên bói quẻ khác?

BĐ4: Thầy cho con xin phép.

ĐT: Ừ, cứ lựa cái nào cũng được; đây, để đây một đống; ở đây tới câu 15.

VẤN: Thưa Cha, nếu như vậy thì những sái quấy tội lỗi của con người có đáng được trách móc kết án trước sự phán xét của công lý loài người cũng như trước công lý của Thượng Đế chăng, khi mà những sai lầm của nó đều nằm trong định luật tự nhiên và trong sự sắp xếp của ý chí Thượng Đế?

(Lời minh luận của đức Thầy)

Anh này là Ảnh rành vụ này nên Ảnh lật ra cái này, đúng như thật.

ĐÁP: Này con ơi, phải nói rằng trước công lý của Thượng Đế thì những tội lỗi sái quấy của con người đáng trách mà không đáng trách. Tại sao không đáng trách? Vì Ngài hiểu tội lỗi ác trược, vốn dĩ nằm trong bản chất của tiểu hồn là một chiết thân của Ngài, nó bừng dậy khảo đảo và khống chế tiểu hồn khi tiểu hồn bị lu mờ ý chí sáng suốt.

Sự lu mờ này, do ý chí xếp đặt cuả Ngài và do sự vận chuyển của định luật Tự Nhiên. Do định luật tự nhiên vận chuyển nghĩa là sao? Là khi tiểu hồn của Thượng Đế xuống tới cõi nặng trược, ý chí sáng suốt của nó phải bị lu mờ vì chất khí nặng nề của cõi hồng trần. Do ý chí xếp đặt của Thượng Đế là sao? Là vì Thượng Đế muốn tiểu hồn Ngài bị ô nhiễm, đi vào nặng trược phải chịu mất cái sáng suốt của nó để học trược nếm trược, rồi bị ác trược khảo đảo nó, khiến nó đau khổ trầm luân, cho đến khi nó thấm nhuần cái trược, nó sẽ lần bước sang học cái thanh. Giai đoạn học thanh này là giai đoạn mà tiểu hồn sẽ vun bồi lại sự sáng suốt mà nó đã mất, cho đến khi nó đạt lại được hoàn toàn. Thế nên, Thượng Đế phải hiểu tội lỗi từ trong bản chất của tội lỗi. Để kết án nó!

(Lời minh luận của Thầy:)

Cho nên, cái chuyện mà Thượng Đế đã sắp đặt cho chúng ta xuống đây, cũng như Anh Cang nói rằng ông Trời cho tôi xuống đây. Tôi hồi trước tôi là ông Tiên mà cho xuống đây sao tôi ngu quá (cười...). Tôi lu mờ đi, nhưng mà cái lu mờ đó là xây dựng được cái dũng chí. Nó cố gắng để nó vượt qua những sự lu mờ đó! cố gắng để vượt qua những sự tối tăm đó thì nó mới trở về thanh giới được; mà khi nó trở về thanh giới nó là trọn lành!

Cho nên, cái bài học của Thượng Đế đã sắp đặt có đầu có đuôi! Hoàn cảnh của các bạn đây là có đầu có đuôi. Ngày hôm nay các bạn đi đến đây tu cũng là có đầu có đuôi! Càng tu chừng nào các bạn đâu thấy thanh, càng thấy trược chớ! Thấy tôi trược quá! Thấy tôi tội lỗi nhiều quá! Thấy tôi tối tăm nhiều quá, nhưng mà cái tối tăm tôi cần thiết không? tôi không cần thiết, tôi phải tự vượt qua những sự tối tăm thì tự nhiên tôi tiến về thanh.

Đó, trong một giây phút nào các bạn rơi vào trong cái chỗ “không”? trong giờ phút tham thiền, là lúc đó các bạn đã giải tỏa và sức mạnh thật sự về với các bạn, trong mọi sự trong lành rơi vào cái “không không” trong cái giờ tham thiền; rồi lúc đó, các bạn mới thấy rằng Thượng Đế đã an bài. Thượng Đế đã dẫn các bạn đi học. Thượng Đế đã nuôi nấng và vun bồi những điểm tốt cho các bạn, qua sự điêu luyện mà chính các bạn phải tự luyện để đạt, sẵn một cơ cấu tinh vi của Ngài đã sắp đặt cho chúng sanh. Cho nên, lúc đó, các bạn chỉ chấp nhận, nhẫn hòa tu trong thanh tịnh mới cứu độ chúng sanh.

Rồi, còn ai nữa? Được không?

BĐ4: Dạ, được.

ĐT: Được, rồi! Không được, làm cái khác.

Rồi, bây giờ chú nào vô? Người ta đi tốn tiền quẻ nhiều; mình bây giờ cái quẻ này ngon lắm, quẻ trọn mà! (cười) Cái nào? Cái này hả?

BĐ5: Dạ.

ĐT: Cái này nó thì:

VẤN: Kính thưa Cha, khi sáng tạo con người thành hai hình hài người nam và người nữ, rõ ràng là Thượng Đế đã có chủ tâm cho họ có sự phối hợp với nhau. Sự kiện đó đã được ghi nhận qua cách cấu tạo thật tế nhị và tinh vi của hai cơ thể nam nữ, để hai cơ thể này có thể phối hợp với nhau hầu sinh đẻ nòi giống nhân loài. Điều đó cho thấy rằng dục của con người là thuận theo quy luật của thiên nhiên. Giờ đây, nếu bảo con người tuyệt dục vì đạo đức tu hành; như vậy, có phải là nghịch lại luật thiên nhiên và sái luật tiến hóa không? Cha nói rằng, nếu nghịch lại luật thiên nhiên, tức là sái luật tiến hóa, thì đây là sự hủy diệt! Vậy xin Cha giải thích.

ĐÁP: Luật thiên nhiên chính là luật tiến hóa. Nghịch lại luật thiên nhiên tức là sái luật tiến hóa và đấy sẽ là thảm họa hủy diệt. Điều này con nói rất đúng! Khi sáng tạo con người, Thượng Đế đã chủ ý rõ rệt cho sự phối hợp qua cách cấu tạo cơ thể của nam và nữ. Như vậy, rõ ràng là Thượng Đế chủ trương cho họ dục để nối giòng. Đấy là định luật tiến hóa. Điều này con nói cũng đúng! Vậy tại sao lại khuyên con người phải diệt dục để tu hành hầu được tiến hóa đi lên?

Sự kiện này có vẻ mâu thuẫn, và chỗ mâu thuẫn khó hiểu này, các nguồn minh triết tôn giáo, các học thuyết, hàng vạn triệu pho sách triết lý từ bao thế kỷ đã bàn bạc đủ cách đến vấn đề hết sức quan trọng cho đời sống con người này. Có học thuyết thì cổ võ đề cao, khuyến khích hưởng dục, xem dục là bản chất đẹp của con người. Có triết lý thì đả phá, ghê tởm dục như ma quỷ, coi dục như một tội lỗi xấu xa chống lại Thượng Đế. Có học thuyết thì xem dục là thú tính phải chế ngự nó để có một đời sống tiết độ đạo đức. Có triết lý thì chủ trương diệt dục để thoát vòng trầm luân tử khổ; v.v...

Tóm lại, nhân loại đã tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực mổ xẻ vấn đề này để khai thông những bế tắc cho con người, nhưng hầu như chưa làm con người thật sự thỏa mãn.

Vậy dục là gì? Cha cho Con rõ, thật sự dục là bản chất của Thượng Đế, dục là Chơn Lý đó Con! Dục là một nguyên lý vĩnh cửu, bất khả diệt và không thể không có được! Nho giáo: tinh là cái của trời thành tựu, tinh là thể chất của tinh; dục là cái ứng dụng của tinh, cái dục không thể bỏ được, bởi nó là cái cụ thể của tinh. Dục là nguyên nhân sự hình thành của Càn Khôn Vũ Trụ, là định luật bảo vệ sự tồn tại vĩnh cửu của Chơn Lý bất biến, do nguyên tắc hóa hóa sanh sanh đời đời của vạn vật.

Nếu Thượng Đế ngưng dục trong một sao đồng hồ, thì Càn Khôn này phải tan rã ngay tức khắc! Cho nên, Thượng Đế phải dục không ngừng, không nghỉ, và dục vô cùng tận! Trong Càn Khôn này có ai dục bằng Thượng Đế? Thượng Đế dục ngay cả trong mỗi vi trần, trong từng vi thể, dục trong từng tế bào nguyên tử: có nguyên tử nào mà không có sự phối hợp của lực Âm Dương? Cho nên, dục phải là chơn lý trong định luật tiến hóa luôn đó con! Thế thì tại sao lại khuyên diệt dục, khuyên từ bỏ sự phối hợp tự nhiên giữa nam và nữ? Cha sẽ cho con hiểu thêm một chút, điều mà các nguồn triết lý, học thuyết, chưa giải thích rõ hơn!

Các con biết, sự thật vấn đề ở đây không phải là diệt bản chất dục, mà là phát triển thêm dục tính, học biết dục hơn, học bài dục cao hơn để tiến hóa lên cao hơn. Đức Bồ Đề Đạt Ma nói: “Chỉ cần thấy được tánh, mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối, dứt trừ, mà cũng chẳng có gì mắc vào vòng dục lạc. Tại sao vậy? Vì tánh mình vốn thanh tịnh, dầu nó trụ ở sắc thân (nghe không rõ…). ”. Nho giáo nói: “Phàm người nói trị, mà đòi sự khử bỏ được cái dục, chính là người không có cách để đạo dẫn cái dục, mà khốn khổ ở sự dục vậy.”

Con phải học dục luôn luôn để càng lúc càng phát triển nó, cho đến khi Con biết dục vô cùng tận để làm Đấng Toàn Giác Toàn Năng. Cuộc hành trình cho Con xuống thế cho đến ngày trở về là để đi học dục: từ dục trược đến dục thanh, từ dực nặng đến dục nhẹ, từ trình độ thấp đến trình độ cao, đủ mọi bản chất, cho đến khi Con thực sự biết dục. Con phải …

[kết thúc ID# 19860100Q2]

[ID# 19860100Q9]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ- MÃN KHÓA - BẠN ĐẠO PHÁT NGUYỆN (Phần 1)

Đức Thầy: Rồi há? Tui xong rồi; cảm ơn ông Di Đà. (cười)

Bạn đạo1: (nghe không rõ)

Đức Thầy: Hả ?

Bạn đạo1: (nghe không rõ)

Đức Thầy: Tui tiếp tục? Đó, thì những vị Phật khác lên nói chuyện đi!

Bạn đạo1: (nghe không rõ)

Bạn đạo2: Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Từ Thiện Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Diêu Trì Kiêm Mẫu Bồ Tát Đại Thiên Tôn, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Tây Thiên Cực Lạc Thế Giới Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Vĩ Kiên Phật.

Con bạch Thầy, nguyên là vầy: con nhờ Thầy dạy đạo cho con, mở tâm, mở trí; mà cái nghiệp của con còn nặng quá, giờ phút chen vô, xách cái chân chảy máu nhiều quá, cho linh hồn con cũng ngồi thiền đau chân quá, con ngồi không được. Vậy, cái nghiệp con nặng, mà hôm nay con ngủ con nằm chiêm bao con cũng không thấy Thầy; sao con 1 đống ruộng để con trồng rau cải; cái ruộng là cái phúc điền, nên con nhờ Thầy phóng điển cho con với các bạn đạo Sydney đây, và các bạn đạo ở (nghe không rõ), các nơi, với Melbourne đây.

Cho nên, tui đau cái chân, ai cũng lo lắng cho tui, lo thuốc men cho tui, thăm hỏi tui; tui nghĩ giờ tui cũng không biết nữa, các bạn đạo quá 10 ngày học tập thì tui này cũng chia ly, buồn; tui cũng không biết nói sao! Con có mấy lời cảm tạ Thầy và quý bạn đạo, và Nam Mô A Di Đà Phật, giờ Thầy cho con đảnh lễ con lạy Thầy 3 lạy ơn Thầy.

Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô A Di Đà Phật,

Bạn đạo1: Kính mời một bạn đạo Sydney;

Bạn đạo3: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Cao Hữu Hiền Hộ Pháp, Nam Mô Vĩ Kiên Phật.

Kính thưa Thầy cùng chư Bạn Đạo; trước khi con vào học cái lớp khóa này thì chính con cũng nghe Thầy dạy là vào học cái lớp này là đào tạo cán bộ để nối tiếp chân của Thầy cứu khổ ban vui; con cũng tự xét: con cũng mới vào thọ Pháp, thì trình độ của con cũng rất còn non kém; nhưng tâm con suy luận, “Dù cho 1 chữ cũng thi; dù cho 2 chữ cũng đi đến trường.” Vì lẽ đó mà con ghi tên học khóa Di Đà này. Sự thật, Thầy giảng dạy tùy theo từng trình độ: đoạt được từ cao thì được cao, mà thấp thì được thấp. Riêng cá nhân con cũng thu thập; con suy luận thì không bằng các anh, chị, nhưng cũng có được hiểu thế nào là đạo pháp.

Trước khi con xin đảnh lễ Thầy 2 lạy để Thầy lấy cái lòng từ bi soi sáng cho tâm con tự xét mình còn tăm tối ngu muội chưa được trọn sáng, trọn lành, vì một bữa cơm thanh đạm mà anh em con không được hòa tâm cùng chư bạn đạo, đó là cái điều con hết sức tự nhận xét sự tối tăm; nhưng con cũng có nghe cái băng của Cha giảng một đoạn: cái điều ăn chay rất là cần, rất là tối cần, Cha mới nói với các con: “Vì bây giờ không phải là cái lúc cho Con hưởng cái khẩu vị, mà là để nương đó mà tự tu, tự học và tự tìm sự sáng suốt cho chính bản thân”; thì con xét nghĩ: chân lý thì chỉ có một, mà phương tiện đi đến chân lý thì có nhiều phương tiện để đi: người già thì đi bằng xe hơi; kẻ thiếu phương tiện có thể đi xe đạp; người thiếu phương tiện nữa thì có thể đi bộ; nhưng con nghĩ con cũng trong cái số có lẽ người đi bộ đó, [mp3.1-09:29] thì khi con cố gắng đề đi, thì tâm nguyện của con khắc phục những khó khăn: dù một chuyện nhỏ con cũng cố gắng để sửa tâm, sửa tánh.

Vậy, một lần nữa con xin Thầy minh tâm kiến tánh cho con; và trước cùng chư bạn đạo cũng hỉ xả những gì tăm tối đã nói lên; và sau khi học cái khóa Di Đà này về thì tui nguyện với chính tâm sẽ cố gắng sửa tâm, sửa tánh; trước học Thầy, sau học bạn, để không uổng công ơn của một minh sư dìu dẫn.

Đó là một tâm nguyện của con: cố gắng tự sửa lấy bản thân; khi nào được trọn lành, trọn sáng, được đi vào thanh tịnh, thì có sẵn một con đường Thầy đã soi sáng, con sẽ nương theo con đường của Thầy mà tiếp tục cái đường của Thầy để cứu khổ ban vui. Nam Mô A Di Đà Phật.

Bạn đạo1: Xin kính mời tiếp 1 bạn đạo Melbourne.

Bạn đạo4: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Vĩ Kiên Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình; con kính xin lời tạ ơn Đức Thầy và đấng Thiêng Liêng đã dạy cho chúng con truyền ??? khí điển trong 10 ngày qua. Thờ ??? trí thì con không được thờ bằng tất cả anh chị và cô bác, nhưng trong lúc Thầy giảng, con đã tập trung tư tưởng để cho điển quang dẫn cái sự huyền diệu cuả Kinh A Di Đà!

Con xin nguyện tự sửa tâm tánh con, và, sau khoá giảng này, con sẽ đem tất cả những gì con đã học hỏi được sẽ hướng dẫn cho tất cả những người đang còn ??? nợ trong sự đau khổ và chưa biết về đạo pháp, để cho được nối bước chân của Thầy, để lo làm nhiệm vụ cứu khổ ban vui. Con xin dứt lời. [mp3.1-14:04]

Bạn đạo1: Xin kính mời một bạn đạo Sydney.

Bạn đạo5: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Đức Mẹ Diêu Trì Kiêm Mẫu; Nam Mô Đức Cao Hữu Hiền Hộ Pháp; Nam Mô Vĩ Kiên Phật. Trong 10 ngày học khóa A Di Đà thì con chưa có trình độ để tiếp thu hết những gì, những lời Thầy đã giảng dạy, nhưng Thầy và các bạn đã mở tâm, mở trí cho con rất nhiều: từ một con người si mê trần trược, mê chấp thiếu thương yêu và tha thứ, thì sau những bữa học này, con nguyện cố gắng tu sửa nhiều hơn nữa để khỏi phụ lòng Thầy, và nguyện cố gắng tu nhiều hơn nữa để có trình độ cứu khổ ban vui và theo bước chân Thầy để trở về Nguồn Cội. Xin Thầy chứng tâm con.

Bạn đạo1: Xin kính mời một ban đạo Melbourne.

Bạn đạo6: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Thầy, thưa quý Bạn, các Bác: hôm nay là ngày cuối cùng của “Khóa A Di Đà”; tui được dự, tui được gần Thầy và gần gũi các anh em bạn đạo ở khắp tiểu bang về, tui được học hỏi thêm nhiều, và tui xin nguyện là tui sẽ thực hiện theo bi, trí, dũng và thanh tịnh, để cứu giúp những người đang cần sự giúp đỡ của tui. Tui xin hết.

Bạn đạo1: Xin kính mời một bạn đạo Sydney.

Bạn đạo7: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Diêu Trì Kiêm Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô A Di Đà Phật; xin đảnh lễ chư vị Thiên Tiên, xin đảnh lễ Tổ Sư, xin đảnh lễ Thầy. Con xin nguyện noi theo gương sáng của Thầy trên đường tu học. Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình.

Bạn đạo1: Xin kính mời một bạn đạo Melbourne, [mp3.1-18:03] dạ, xin kính mời anh Thái Hồng Tấn.

Bạn đạo9: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Mười Phương Chư Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. (nghe không rõ) Tui thật có nhiều điều muốn nói; điều nào tui cũng cảm thấy quan trọng cả, và chính nhiều điều muốn nói đó mà tui chẳng nói được lời nào! Những ngày gần gũi Thầy thì tôi thấy rằng mình yên tâm và hạnh phúc. Nhưng những lời Thầy giảng, thực tình tui chẳng thu được bao nhiêu! Thầy đã từng nói rằng “Hoàn cảnh là minh sư; vợ con là minh sư”; ngẫm ra thì buồn cười thật, nhưng ngẫm kỹ lại thì quả là đúng, và suy luận hơn nữa thì ta mới thấy rằng chính ta mới là vị thầy chối thật nhất bởi vì chúng ta là con người gắn liền với ta nhất!

Trong những đêm khuya khắc khoải, trong những cơn thiền, ta hỏi, “Ai đây?” Một ứng nghiệm chờ khá lâu, một cơn sống động cũng không thể giải thích được; có Thượng Đế cũng không thể giải thích được; chỉ có ta mới giải thích được những điều ta cảm nhận được! Thành ra tui nhận thấy rằng, có lúc nhiều điều chúng ta thắc mắc, chúng ta suy tư trong những giây phút nào đó, chúng ta không thể giữ lại được khi gặp vị Minh Sư, chẳng hạn; những điều đó đã quên mất rồi; cho nên ta thấy rằng mình cứ trở về mình đi, rồi mình sẽ giải thích cặn kẽ những điều gì mình thắc mắc ; chớ còn chạy ra ngoài mãi, cũng như chứng nghiệm rằng những điều mà tôi thắc mắc, tui đến hỏi Thầy, thì những lời đó Thầy, thật tình tui không cảm nhận được, và tui càng thắc mắc thêm.

Nhưng mà những lời đó, nếu mà tui chịu khó ngồi lại và niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” một chặp, thì tui thấy sáng sủa vô cùng, và tui thấy rằng, “Sao lúc đó mình có thể hiểu được những điều mà mình thắc mắc?” Nhưng mà thắc mắc càng ngày càng gia tăng; bây giờ ta thấy một điều gì nhỏ nhặt ta đều phát,??? và tui có thể cảm nhận được những điều thắc mắc vì ta thấy rằng thật tình là đời đạo song tu: tui thấy rằng những chuyện xảy ra trên đời này thật tình dạy dỗ mình trong chớp mắt.

Mà khi chuyện gì xảy đến, mình thấy rằng nó sai, mình thấy nó đúng! Và mình thấy nó sai thì thật tình mình thấy rằng cái sự sai và đúng đó nó không phải là thật, bởi vì chân lý thì phải là một, chớ không thể là mặt hay trái! Nó là toàn vẹn.

Thành ra cái cảnh đời này, giả tạo, mà nó là phương tiện để giáo huấn chúng ta, để chúng ta cảm nhận, nhờ phương tiện đó hằng giây, hằng phút nhắc nhở chúng ta; chúng ta cảm nhận nó để rồi quay về chúng ta tìm sự chân thật vĩnh cửu! [23:24]

Chúng ta biết ơn Thượng Đế, chúng ta biết ơn Thầy đã từng giờ, từng phút, từng giây dạy dỗ chúng ta. Nếu chúng ta không thanh tịnh thì chúng ta không thấy được điều đó! Quả tình từng phút, từng giây Thượng Đế đã dạy dỗ chúng ta;chúng ta cám ơn Thượng Đế; nó giúp chúng ta biết trở về chúng ta, thì đó mới là sự biết ơn thật sự. Chúng ta không cần cám ơn Ngài, chúng ta hành và theo lời dạy dỗ của Ngài, chính là chúng ta thật sự biết ơn Ngài đó, và ta cảm thấy rằng Thượng Đế đã ân ban vui, Thầy đã vui mừng đem tâm thức hướng về Nguồn Cội.

Chúng ta nhìn chung quanh vạn vật, chúng ta thấy rằng chúng ta còn thua loài cây cỏ, chúng ta có thể đủ nhẫn nhịn không? Hãy nhìn cây tùng, cây bách, những loài cây cỏ trơ gan cùng tuế nguyệt, nó dãi dầu gió sương, nó không một lời than thở, nó nhẫn nhịn suốt cuộc đời của nó để mà trả nghiệp: trả để mà học chữ nhẫn, mà thôi. Chúng ta, chỉ có một chút gì xảy đến chúng ta, chúng ta đều than thở; hay là chúng ta thấy một điều gì hay, chúng ta chỉ hành trong chốc lát rồi bỏ;thành ra chúng ta nghĩ lại, chúng ta thật là còn thua loài cây cỏ! [mp3.1-24:30]

Và những lời gì tui cảm nhận, có thể tui nói ra thì nó không được mạch lạc, và tất cả những ngày khóa học A Di Đà được khai giảng đến ngày kết thúc hôm nay, tui không được duyên phước dự tròn đầy; nhưng khi tui làm trong hãng, trong factory, tui hướng về khóa học và tui niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” tui cứ niệm, niệm, và tui khám phá được một điều thú vị là, “Bây giờ mình có trò chơi niệm Phật: niệm, niệm, niệm, rồi mình thấy mình thanh thản; và lời than mình ca lai láng!” Rồi tui thầm ngâm những lời thơ của mình, mình thấy thú vị vô cùng: khi xưa thì mình nghĩ mình chép lại những lời thơ đó, chớ bây giờ tui không cần nữa, bởi vì những lời thơ đó nó vô cùng tận trong ta: khi tui niệm, hoặc là tui trở về mình thì thấy rằng hạnh phúc vô cùng, lời thơ chan hòa vô cùng, mà thấy vui thú vô cùng.

Thành ta, tui thấy rằng không phải vào Khóa học mới là học, và Khóa học này nó khai giảng không phải chỉ có 10 ngày ngắn ngủi mà thôi; thật sự nó đã có từ, nếu mình nhìn không xa, thì mình chỉ nhìn trong kiếp người mà thôi, thì nó đã chuẩn bị mình từ khi mình ra đời rồi: từ khi ra đời đến ngày hôm nay đã cảm nhận biết bao nhiêu điều chung quanh: từ đau khổ, buồn vui; bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu đau thương, thì những cái đó là những chất liệu tốt để chuẩn bị cho ta dự khóa học ngày hôm nay.

Và khóa học này không phải là kết thúc, mà nó là bắt đầu, và tui cảm nhận rằng thực tình tui không muốn nói gì nữa cả, mà tui phải nói! Nhưng mà rốt cuộc rồi tui nghiệm rằng chỉ có niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà thôi; chỉ có niệm, thường niệm, vô biệt niệm; chừng đó chúng ta mới chứng đắc được những lời dạy dỗ, và chính đó chúng ta mới thấy rằng, “Vô Tự Chơn Kinh” là quý báu và đó là cái vô cùng tận.

Thành ra, nói nhiều, nói tới, nói lui, cãi qua, cãi lại, bàn tới, bàn lui, cũng là một cái phương tiện nhắc nhở chúng ta, mà thôi; và ta thấy rằng mỗi một sự kiện xảy đến chúng ta, nếu chúng ta bình tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì là không có gì cả! Dạ, tui xin hết. [mp3.1- 28:21]

Bạn đạo1: Xin kính mời tiếp 1 bạn đạo Sydney.

Bạn đạo10: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Đức Vĩ Kiên Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. Con xin đảnh lễ Thầy. Sau khóa học 10 ngày, con hiểu Thầy đã trao cho tất cả chúng con bao nhiêu, bao nhiêu… Thầy đã giảng dạy cho chúng con! (khóc) Thầy đã đi đây, đi đó để giảng dạy cho tất cả mọi người,nhưng mà riêng về phần con, con vẫn cảm nhận được con còn u tối. Trong cái Khóa Học “Kinh A Di Đà” này, Thầy đã trao chìa khóa cho con, niệm Lục Tự Di Đà; mà cái chìa khóa để tự con mở để con đi; con nguyện con sẽ cố gắng con niệm đến giai đoạn đạt được thường niệm, vô biệt niệm, để con được sự sáng suốt để con vượt qua những trở ngại, những cái nghiệp chướng của con, để con đi về với Thầy, với Cha! Con xin hết. Con xin cám ơn Thầy. Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình.

Bạn đạo1: Xin kính mời một bạn đạo Melbourne.

Bạn đạo11: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô A Di Đà Phật; con kính thưa Thầy cùng các huynh tỷ muội: những cái tâm tư tình cảm của con thì có lẽ là xúc động, con không nói được, cho nên con có một cái bài thơ; mà đây là lần đầu tiên con làm thơ, nên có những lỗi lầm thì Thầy và các bạn đạo bỏ qua cho con; vì con nghĩ khi con lên đây thì con sẽ không thể diễn tả hết được những tình cảm, tâm tư của con! Thì con xin đọc bài thơ này: [mp3.1- 32:53]

“Duyên lành con được gặp Thầy

Hay rằng xứ Phật khó về do con,

Con xin đảnh lễ cùng Thầy

Sư huynh, tỉ muội một nhà Vô Vi

Thầy thương con trẻ dại khờ

Bơ vơ lạc lối giữa đường thế gian

Ra tay cứu độ quần sinh

Thương con cho trót một lần vì con

Khai tâm mở trí cho con

Mười ngày học đạo sánh bằng mười năm

Ngày khai giảng ban huấn từ

Từng lời, từng chữ nhiệm màu trong kinh

Vô Vi Pháp Lý bí truyền

Khóa học “Kinh A Di Đà Chú Giải”

Giữ tâm thanh tịnh nghe Con

Mười ngày tu học ấy là thiện duyên

Báu vật Thầy đã trao tay

Thực hành Con hãy một lòng dốc tâm

Phép Phật sáu chữ Di Đà

Mau về Nguồn Cội Mẹ chờ Cha trông

Công phu luyện đạo chuyên cần

Soi Hồn, Thường Chuyển Pháp Luân, Định Thần

Di Đà danh gọi tên Con

Hà xa vi tế biến thành Lưu Ly

Phần hồn Con sẽ xuất ra

Mô Ni hạt ngọc của Trời do con

Tiên đồng hay gọi Anh Nhi

Huyền diệu khí điển gọi là Hào Quang

Bồng Lai tiên cảnh định thần

Con về cõi Phật nơi Con quên người

Thiên đàng hưởng phước vô biên

Tâm Con thanh tịnh như là chơn không

Lời Thầy vàng ngọc dặn căn

Học hòa học nhẫn ấy là chân tu

Hôm nay bế mạc khóa này

Sao tâm con bỗng bồi hồi xuyến xao

Ơn Thầy sánh tựa non cao

Như sông biển rộng, con đà ghi tâm

Bùi ngùi trước cảnh chia tay

Sư huynh tỉ muội xa rời nơi đây

Con về nhớ mãi chốn này

Một lòng luyện đạo đáp đền thâm ân

Siêng năng tinh tấn chuyên cần

Tu tâm sửa tánh từng giờ, từng giây

Thương yêu tha thứ mọi người

Thực bi, trí, dũng mở đường cho con

Lòng thành con phát nguyện tâm

Học Thầy, học bạn con thường khắc ghi

Thiên Đàng Cực Lạc cùng về

Sư huynh tỉ muội hội nhà Vô Vi.” [mp3.1- 35:14]

Con xin dứt lời.

Bạn đạo1: Xin kính mời một bạn đạo Sydney.

Bạn đạo11: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. Kính thưa Thầy, kính thưa các bạn đạo: trước khi con lên đường đến đây để học Khóa thì lòng con rất hân hoan hăng hái, tâm nguyện sẽ cố gắng học để khỏi phụ lòng các bạn đạo đã gởi gắm con trong khóa này. Nhưng sau 10 ngày học tập, lòng con thực sự bị chùn bước: lo lắng, băn khoăn, vì trí mình thấp, không tiếp thu được những lời giảng vàng ngọc quý báu của Thầy; do đó, con rất buồn mà không làm được những gì mà các bạn đạo con đã gởi gắm! Tuy nhiên, với những gì con thu thập được trong Khóa này, con tâm nguyện cố gắng để về địa phương truyền đạt dìu dắt các bạn đạo của con sớm về Nguồn Cội. Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. [mp3.1- 37:01]

Bạn đạo1: Xin kính mời tiếp một bạn đạo Melbourne.

Bạn đạo12: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Vĩ Kiên Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. Kính Thầy, kính quý vị bạn hữu: sau khi được đại hồng ân dự Khóa Học Kinh A Di Đà 10 ngày, con nhận thấy con chỉ là một tội hồn đầy tội lỗi. Xưa nay con hành pháp thiền này, con chỉ biết là để con tự thanh lọc thân tâm, nhưng chỉ những khi nào con đau khổ con mới hành thật sự; con chỉ để thời gian kéo dài một cách mê muội; dườngnhư con chờ đợi một cái gì mà con không biết? Sau 10 ngày này, con tự thức tâm nhờ Thầy soi sáng ban phước lành! Con nguyện con sẽ cố gắng tu tiến nhiều hơn, thật sự tự thanh lọc thân tâm nhiều hơn để con tự giải thân nghiệp cuả con, gia đình con và hy vọng trong tương lai con sẽ được có dịp khuyên các bạn mà có thiện duyên con được gặp để phổ biến Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp rộng rãi hơn. Con xin đảnh lễ Thầy! [mp3.1- 39:43]

Bạn đạo1: Xin kính mời tiếp 1 bạn đạo Sydney.

Bạn đạo13: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Vĩ Kiên Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình. Con xin kính lạy Thầy; con được học cái khóa 10 ngày, thấy con còn u mê quá, con mở trí không được nhiều; và sau đây con xin nguyện phát tâm về học hỏi và dìu dắt anh em chúng con sau này! Con xin đảnh lễ Thầy ban ân (… nghe không rõ).

Bạn đạo1: Xin kính mời 1 bạn đạo Melbourne.

Bạn đạo14: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Đức Hộ Pháp Cao Hựu Hiền; Nam Mô Đức Vĩ Kiên Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình.

Kính thưa Thầy, qua 10 ngày chúng con hòa sống với Thầy trong vòng tay âu yếm thương yêu của Thầy, con học được 3 đức tánh của Thầy: nhẫn, hoà, và hy sinh; con được mở trí rất nhiều: từ trước tới nay con hiểu 2 chữ hy sinh rất là nhỏ hẹp, con cũng nghĩ theo ý của con, con cũng hy sinh, nhưng với 10 ngày qua sống với tình thương của Thầy, con thấy hy sinh của Thầy bao la không thể nào nói hết được, và con xin nguyện với Cha Trời, với Mẹ, và con kính xin Thầy, con nguyện cho tâm con sau 10 ngày học tập, con sẽ rèn luyện và con sẽ hy sinh, hy sinh theo những bước chân của Thầy: Thầy đã lao tâm khổ trí vì các con ngu muội tăm tối; biết bao năm Thầy nhọc nhằn lao khổ, mà con vẫn còn ngu muội nghe biết bao nhiêu băng của Thầy, của Cha! Và hôm nay con xin nguyện là con sẽ học nhẫn, hòa, thương yêu và hy sinh hơn nữa, và con cũng xin nguyện cứu độ quần sanh cho đến hơi thở sau cùng. Và con xin tạ ơn Thầy.

Bạn đạo1: Xin kính mời tiếp một bạn đạo Sydney.

Bạn đạo15: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn; Nam Mô Cao Hữu Hiền Hộ Pháp; Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Quan Thế Âm Bồ Tát; Nam Mô Vĩ Kiên Phật; Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình.

Kính thưa Thầy, kính thưa các sư huynh sư tỉ, các bác: Qua 10 ngày học tập Khóa A Di Đà, từ ngày 1 cho tới ngày thứ 9, mỗi một 9 giờ sáng con bước vô là nghe Thầy kêu: “Di Đà ơi!” và Thầy kêu các linh căn, các phần hồn hãy thức tâm mà tự hiểu rằng mình là một tội hồn xuống thế gian! [mp3.1-47:53]

[ID#19860100Q9-2]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ- MÃN KHÓA - BẠN ĐẠO PHÁT NGUYỆN – Phần 2

Bạn đạo16: Tức là hồi nãy mình có giải thích rồi, mình có phần hồn và phần vía. Thì cũng do ảnh thiền theo phương pháp riêng của ảnh, thành ra cái vía của ảnh nó nhẹ. Khi cái vía nó nhẹ rồi, nó cũng đi đây, đi đó được; thì khi cái vía nhẹ đi đây, đi đó, thì mình cũng được báo trước những cái chuyện gì xảy ra cho gia đình mình, hay cho một số gia đình nào khác, do cái vía của mình nhẹ thôi. Nhưng mà trong cái phần người tu đó, muốn được giải thoát, muốn được tiếp xúc với cõi Trên, với Phật, với Niết Bàn, thì phải do phần hồn! Cho nên, cái phần vía nhẹ thì rất là tốt, nhưng mà thật sự cái quan trọng nhất là cái phần hồn, không phải phần vía.

Đức Thầy: Đó là linh tánh mà thôi; linh tánh nó mở thì nó có; không có gì hết; linh tánh mở đằng này là chuyện thường; người thiền một thời gian là tự nhiên nghĩ gì có nấy à! Cái linh tánh nó nhẹ, nó mở.

Còn thiền, về phần hồn, nó khác.

Cái vía nó nhẹ thì nó rất tốt rồi; bên thiền chúng tôi đó thì đặt quan trọng cái phần hồn cho nó nhẹ. Cho nên, phần vía nhẹ đó cũng là cái điều tốt cho Anh rồi!

Tui sợ cái vía nhẹ nhiều khi nó đi lệch, thấy rõ ràng; nhận định những việc đó, nhất định như vậy là như vậy, không thay đổi.

Bạn đạo16: (nghe không rõ)

Đức Thầy: Anh hành rồi là Anh sẽ thay đổi nhiều lắm; trước khi hành, chụp hình; hành 6 tháng sau, thấy mặt Anh tươi! Mình càng ngày càng thấy cái ác ý của mình nó rời khỏi tâm thức!

Bạn đạo16: Thưa Thầy, trong Kinh Kim Cương có mấy câu rất là khó, có nhiều người không hiều. Sẵn đây, có 1 bạn hỏi,xin Thầy giải thích cho cái câu trong Kinh Kim Cương là, “ Sắc bất dị không, không bất dị sắc.”

Đức Thầy: “Sắc bất dị không”: từ cái Có đi tới Không; cái xác mình là xác mình chết rồi nó cũng trở lại không à; rồi trong cái không, nó chết rồi, là còn đi tiến hóa nữa: trong cái không, nó là sắc; chết rồi, còn tiến hóa nữa chớ không phải hết đâu! Nhưng mà cái mình có đây là không: ôm tiền, ôm của, ôm bạc; rồi rốt cuộc cũng tay không ra đi, nhắm mắt tay không ra đi: không!

Cho nên, mình đi mình tu ở đây đó, nó khai triển trong Không mà Có : “Không bất dị sắc,” trong không mà có. Mình có thể xuất khỏi thể xác, đảnh lễ Phật, liên lạc bạn bè nhiều lắm, không phải ít đâu: Càn Khôn Vũ Trụ nhiều người thông minh lắm; rồi tự nhiên thơ thái, thao thao bất tuyệt !

Bạn đạo16: Thưa Thầy, nhiều người thường nói cái vấn đề Lục Căn Lục Trần đó, thì bạn đây muốn thưa Thầy giải thích cho “Trần” là cái gì ? Và mình làm thế nào để mình hiểu được trong người mình, cái gì là Lục căn, cái gì là Lục trần ?

Đức Thầy: Ở đây có cái nguyên lý “Nam Mô A Di Đà Phật” ; niệm thét rồi lục căn ở trong nó chuyển động hết ; thì bên ngoài nó được thông : Lục Thông thì nó không có làm bậy, nó không có xô đùa, không có bày biểu cái chuyện bậy, và trong thực hành sai ! Tự niệm Phật là nó khai thông Lục Căn Lục Trần, Lục Đạo nó khai thông : 6 cái luân xa nó mở ;biết Lục Căn Lục Trần điển mà thôi.

Nếu mà mình không nắm được cái đó, mình thấy đặt cái hình này, hình kia, hình nọ ! Suốt kiếp cũng tìm không ra.

Biết được cái nguyên lý niệm Phật rồi, thấy trong này bừng sáng lên ! Lúc đó, lúc đó mình hiểu : nằm trong nguyên lý đó; mình, nó muốn, nó hiện hình là nó hiện hình, chớ không có gì hết. Khi mình xuất ra rồi mình trở về, cái xác nó cũng chắp tay quỳ, cũng như đảnh lễ một vị Phật vậy ! [mp3.2- 03:25]

Bạn đạo16: Thưa Thầy “Luân xa” là cái gì ?

Đức Thầy: Luân xa là cái điển nó chuyển, nó chuyển thông, kêu bằng Lục Thông đó : Lục Tâm bây giờ nói đây đó, ở đây cái chết, trung tim mà, đâu ở dưới này, cái chết ; 6 cái luân xa ở đây cũng chết : trung tâm mà ; nó mở cái đó rồi đó, mình ngồi thiền, nhập định rồi, thấy có chữ “Vạn” ở đây ; mình niệm Phật đều thấy cái xâu chuỗi ở đây : có xâu chuỗi đàng hoàng : chuỗi to lắm, không phải chuỗi nhỏ đâu ; nó chạy đều. Mà trong lúc mình gặp tai nạn, mình chỉ biết niệm Phật, xâu chuỗi, thôi. Mình không có đánh ! Như tui vừa rồi, tui ở bên Tây, bà chủ phòng bả đổi tui cái phòng ; vừa vô nằm,tui mới vừa mở mắt vầy, tui thấy 2 con hắc xà leo lên cửa sổ tấn công tui ! Tui nói, “Chết cha, hồi nào giờ không có học pháp; bây giờ làm sao ?” Tui ngồi, thấy tượng phóng ra, chặt đứt đầu luôn ; nó nhào xuống ; thì mình thấy 2 người đứng,không có gì hết ! “Tụi nó tìm trước của tụi nó ; ở đây nó làm chủ, mà Bà vô Bà chiếm, thành nó phá Bà không bao giờ yên hết.” Bả nói, “Thiệt, tui từ ngày dọn vô đây, không bao giờ tui yên hết !” Rồi tui mới trấn cho bả kiếng Vô Vi. Rồi bả làm có tiền lên, rồi bả ôm tiền bả đi, bả bỏ chồng luôn ! Bả tham ; lòng tham ; bả không có tu ; lòng tham bả nổi dậy,bả ôm tiền,bả bỏ ông chồng, tính đuổi ông chồng ra khỏi nhà !

Vừa lúc đuổi ông chồng, gặp lúc tui tới thăm ổng ; tui giảng cho ổng biết, tui nói, “Cái cuộc hội tụ của Ông có trong cái nguyên lý này, cũng như Ông tin Chúa, Chúa sẽ ban ơn cho Ông. Bây giờ Ông ngày đêm nghĩ Chúa, chớ Ông không nên nghĩ giận bà vợ ! Vẫn thương yêu bà vợ thì công chuyện của Ông yên.” Hỏi, “Tại sao ?” “Cái lòng từ bi của Ông phát triển, thì tòa án nó không có phá Ông !” Sau, ổng được tòa án bảo vệ ổng, cho ổng ở trong cái (nghe không rõ) không đuổi được ; bả lấy tiền rồi bả đuổi ổng đi ; không đuổi được ! Mà bây giờ ổng làm ăn khá lại rồi ; cũng nhờ tui tới nói một chút thôi ; nói gì, nhớ nấy ! Tui có trấn cái kiếng Vô Vi cho ổng rồi.

Bạn đạo16 : Thưa Thầy, sẵn Thầy có nói đến cái kiếng Vô Vi, con cũng xin hỏi : nếu như ngày xưa đó (nghe không rõ) Quan Thế Âm Bồ Tát đó, bây giờ muốn làm kiếng Vô Vi thì phải làm thế nào? [mp3.2-07:03]

Đức Thầy: Kiếng Vô Vi nó là trong lành, để mình, mỗi ngày mình tu thiền mình nhìn lại bản mặt của mình ; phải thật lòng với chính mình : tu thôi, rồi mình phải lạy nhiều để gỡ cái điển vô đó thì tâm mình tưởng, đêm nào cũng nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát, thì Quan Âm đó chớ đâu nữa ! Từ ở trên, người ta chiếu thẳng vô trong gia đình mình ; cho nên,người nào mà tà ma muốn hại mình đó, vô đó nó chỉ có ho, nó làm không có được !

Rồi mỗi ngày mình phải săn sóc cái kiếng, là mình phải lạy cái kiếng Vô Vi để cái điển của mình giữ cái nhà cho mình;cái đó là thực tế nhất : Trời, Phật ở trên trời chiếu cho mình ; chớ không có ở dưới thế gian, đi lạng quạng dưới thế gian,đâu ! Mà đặt cái hình, đặt cái hình không à ! Nói, “Tui thờ bà Quan Âm !” Có bà nào tới đâu ! Cái hình ; mình phải nói rõ đó là cái hình ông thợ vẽ ổng bán ổng lấy tiền rồi ; không có cái gì hết. Còn cái tâm thức mình nghĩ tới Quan Âm, cái điển của mình bảo vệ mình.

Bạn đạo16: Thực ra, cái ý của con muốn hỏi Thầy là, con không có muốn sự xáo trộn nào trong (nghe không rõ) ; nếu con dẹp cái bàn thờ Phật thì con (nghe không rõ) ?

Đức Thầy: Không ; Con muốn dẹp cũng không phải dễ : phải tu thiền thiệt lâu ; mình thấy rõ ràng, mình mới làm.

Bạn đạo: Ước mơ của con là con muốn như vậy ; nhưng mà bây giờ có thể rằng…

Đức Thầy: Mất niềm tin của gia đình ?

Bạn đạo16: Nếu bây giờ con muốn, làm phiền Thầy có thể nghĩ thế nào để con …

Đức Thầy: Bây giờ gia đình vợ, bàn thờ thì Thầy tới dẹp được, chớ Con dẹp không được đâu ! Coi chừng, Con dẹp nó không có giải được. Không có sao ; có sự hiện diện của tui là yên à, không sao. Người lôi thôi tới, đi dỡ chùa là về điên đó ! [mp3.2- 09:02]

Bạn đạo16: Thưa Thầy, hôm qua Thầy có trao kiếng Vô Vi cho con đó, Thầy ; con thưa với Thầy là không bao giờ con ngồi được quá 45 phút ; thì tối hôm qua con ngồi được 1 tiếng rưỡi !

Đức Thầy: Ừ.

Bạn đạo16: Con nhờ cái kiếng Vô Vi.

Đức Thầy: Cái điển dồi dào, Bên Trên người ta cũng chứng giám cho Con, giúp đỡ cho gia đình với lòng thành của vợ chồng Con thôi. Đó là sự thật : mình liên lạc với Quan Thánh Đế Quân, chớ không có phải là xạo !

Bạn đạo16: Dạ ; khi con ngồi thì con nghe nổ 1 tiếng thiệt lớn trong đầu con đó, Thầy !

Đức Thầy: Có sự xuống của ổng đàng hoàng ; trong đó Con viết chữ đàng hoàng, nhưng con mắt phàm Con không có thấy ; chịu tiến chớ ; Con viết chứ, đàng hoàng.

Bạn đạo16: Dạ, chắc có ai ở nhà coi có cái gì đó, phải không, Thầy?

Đức Thầy: Chớ sao ! Chấn hết rồi.

Bạn đạo16: Ngày hôm qua, trong nhà con thấy có cái gì đó, Thầy : nó lục cục, lạc cạc…

Đức Thầy: Không phải ; ăn chung ; đừng có nghĩ đến nó nữa.

Bạn đạo16: Dạ.

Đức Thầy: Mình cứ nghĩ lạy đứng đắn, tu thiền đứng đắn, là giải quyết hết mọi sự việc. Chuyện đời, chuyện đạo cũng đi tới ; gia đình, con cái đồ, sửa lần lần hết ; không có sao hết.

Bạn đạo16: Thưa Thầy, (nghe không rõ)

Đức Thầy: Mà 2 vợ chồng phải đồng ý mới được ;

Bạn đạo16: Rồi con thì gần như là lúc muốn, lúc không, vì chưa đi đến cái độ mà (nghe không rõ)

Đức Thầy: Chưa, chưa am hiểu tận tường ! Vợ chồng đồng ý nó mới tạo hòa khí, tài mới vượng ; tự nhiên có chuyện có tiền vô, không có sao hết đó. Còn vợ chồng không có hòa khí thì có bao nhiêu tiền cũng văng ngoài đường à ! Hai vợ chồng phải đồng ý ; làm việc gì cũng 2 vợ chồng đồng ý, thì Thầy giúp đỡ cho.

Bạn đạo17: Thưa Thầy, hồi nãy Thầy nói 2 con hắc xà đó, nó bị dứt đầu, rồi nó hoá người ; vậy tức là con hắc xà là con người ?

Đức Thầy: Nó chiếm cái nhà đó ; mà bà đó bả vô, bả không có cúng kiếng, không có gì hết ! Đông lắm ; bữa tối đó, tui xuống tui ngồi, nó kéo cả một đống tới ! Tui giải thích cho biết, tui nói 2 vợ chồng này có tu, tới trị bệnh ; chớ ổng để cho người ta làm ; tui đã cho phép người ta làm ; để tiếp tục cho người ta làm ; không có phá ! Nó yên. Trấn 2 cái kiếng Vô Vi đó.

Bạn đạo17: Thưa Thầy, nếu mà nó đứt đầu như vậy đó là … (nghe không rõ)

Đức Thầy: Tại tội nó.

Bạn đạo17 : Dạ. Thầy thương nó.

Đức Thầy: Bởi vì xâu chuỗi làm, chớ có phải tui làm đâu ; thì xâu chuỗi phải trách nhiệm đem nó đi ; cái đó là duyên lành để đưa nó về Phật ; tui chỉ thấy đập có một cái, cái gì nó mạnh quá, rồi tui cũng vô trong phòng tắt đèn hết trọi, thấy 2 bà Việt Nam đội khăn rằn ngồi đó thê thảm khóc lóc. Tui mở mắt chớ tui chưa có ngủ, tui hỏi chớ, “Chuyện gì, có chuyện gì cần, tui giúp đỡ cho ?” Nó đứng lên nó hiện hình con quỷ, nó le lưỡi, rồi la um sùm hết ! Tui thấy tui không biết, tui không có phép gì đánh người ta ; tui chỉ niệm Phật thôi ; rồi tui định thần tui thổi cái, nó đứt làm 2 ; thổi 4 lần, tan luôn hết ! Tại nhà nó thờ tượng nhiều quá ; tui nói, “Đem mấy cái tượng ra ngoài tiệm bán hết đi, không có cho thờ nữa !” Dẹp hết ! Mới yên đó ! [mp3.2- 12:46]

Bạn đạo: Thưa Thầy, nó là con gì ? Thầy thổi nó, là con gì ?

Đức Thầy: Ma quỷ, nó là ma quỷ chớ con gì ! Dữ lắm ; nó hiện hình, dữ lắm ; người thường mà hét, la đó, thấy hết hồn đó ; dữ lắm !

Bạn đạo17: Thưa Thầy, thường thường nhiều người mới sinh ra đó, nhiều người sinh ra thì bệnh hoạn, có người giải thích bệnh là do cái nghiệp thân của mình. Thưa Thầy, nhờ Thầy giải thích dùm cái nghiệp thân, và bây giờ muốn làm cách nào để giải cái nghiệp thân đó ra cho bệnh hoạn nó bớt đi ?

Đức Thầy: (nghe không rõ) những người nó phải, cái tội nó trị chưa xong, nó phải tếp tục thọ cái tội ở thế gian : mớinhìn, đui này, ngọng, này kia ; phải tiếp tục, để học nhịn nhục ; chớ không có gì đâu ; cũng cái Luật của Trời. Tụi nó ở âm phủ trị chưa hết, thì lên trên đây nó phải tiếp tục học nhịn nhục để nó tiến hóa ; nói phần hồn thì nó có cơ hội tiến hóa, chớ không có sao.

Bạn đạo17: Thưa Thầy, cái xác nó đui, nhưng mà cái hồn nó không có đui ?

Đức Thầy: Nó đâu có đui ! Như nhiều người ở Việt Nam đui như ông Hải tu pháp này đó ! Bây giờ ổng còn sáng suốt lắm, ổng còn dẫn một số người tu nữa : tui ở Úc Châu gặp bạn đạo ổng dẫn qua thăm tui đó ! [mp3.2- 14:06]

Bạn đạo17: Thưa Thầy, ví dụ người đó bị què, hay là bị gì, cái hồn nó không có què, cái xác nó mới què ?

Đức Thầy: Nó có lý luận tu học, nó xách cái điển vinh quang nó hồi sinh.

Bạn đạo17: Thưa Thầy, con nghe Thầy có cái thước đo hào quang là cái thước nó là điển ?

Đức Thầy: Cái đó Đức nó phát minh : trong người mình hào quang mạnh đó, để cho đỉnh đầu nó lắc, lắc, lắc ; mà hào quang yếu, là nó không có.

Bạn đạo17: Hào quang tức là điển đó ?

Đức Thầy: Điển ; không phải cái cây, mà điển ; nó nhẹ. Đức nó phát minh về, nó đo (nghe không rõ)

Bạn đạo17: Thưa Thầy, Thầy ngồi trong này đó, Thầy có biết trong này, cái điển ai cao đến đâu, đến đâu, bằng mắt không, Thầy ?

Đức Thầy: Biết hết chớ ! Nhưng mà tui làm việc trong thanh tịnh thôi ; tui không có phong chức cho người nào hết ! Phong chức được, người đời hay làm tàng lắm, ăn hiếp bạn đạo cũng được. Người nào tu thì người đó nhờ ; không có ai ăn hiếp ai ! Tui không thích cái vụ ăn hiếp. Phải có Thức Hòa Đồng dẫn dắt với nhau tiến hóa ; nó nhanh hơn ; những người kia, không được.

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)[mp3.2- 15:50]

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)[19:50]

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Bạn đạo1: (nghe không rõ)

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ)

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: Hử ?

Bạn đạo18: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ). Thôi, xong chưa?

Bạn đạo18: Dạ, [mp3.2-21:55]

Đức Thầy: Cái chánh của mình là nhìn ngay trung ương, bởi vì tánh con người nó không có đàng hoàng ; tại con mắt nó không có ổn định. Mình phải bắt nó ngay thẳng nhìn ở đây, rồi nhìn ở đây ; tức là mở ở đây sau này ; nó mở được rồi thì nó nói một là một ; 2 là 2 ; nó không có sợ ! Người đời hay gian dối : nói rồi hay thay đổi. Bây giờ bắt nó nhìn thẳng ; cái gì cũng thẳng hết, không có méo ; bắt nó ngồi thẳng ; nhìn thẳng.

Bạn đạo18: Nhiều lúc con thấy nó rút ở đây ; lên trụ ở chỗ nào, Thầy?

Đức Thầy: Đâu có ; trụ ngay chỗ này, hả ? Trụ ngay chỗ này là điểm chánh ; trụ ngay chỗ này, xong dẫn nó đi ; cứ ngó ngay chính giữa này, cái đó là quan trọng nhất ; bất cứ giá nào, cứ ngó ngay chính giữa, rồi nó chạy đâu nó chạy, không sao hết ; ngó ngay chính giữa này đó thì nó sẽ mở ngay trung ương này.

Bạn đạo18: Thưa Thầy, cho con hỏi thêm 1, 2 câu nữa, Thầy, để rồi Thầy nghỉ.

Ở trên thế gian, thế giới của mình đó, có nhiều sắc dân: da trắng, da vàng, da đen; thường thấy người da đen, về hình thể bên ngoài tương đối là không được tốt đẹp: da đen là thường xấu xí; thì, thưa Thầy, vấn đề tâm linh thì cái sự bạn của con người với lại chương trình tiến hóa về tâm linh, thì nó có đi song song với nhau, hay là ngược nhau?

Đức Thầy: Nó tiến hòa tùy theo duyên nghiệp của nó. Thằng Tây đen cũng có vợ, có con; những ông nhà giàu cũng có vợ, có con; mà thằng trắng cũng có vợ, có con; ràng buộc hết! Có luật của Trời hết đó: tùy theo duyên nghiệp phát triển của chính nó.

Cái tâm thức nó cũng như nhau thôi; nếu như mà nó tu thì cũng như nhau thôi, không có gì khác biệt; duyên nghiệp nó là đang giáo dục nó, giáo dục cho tâm linh nó tiến hóa! [mp3.2- 23:57]

Bạn đạo18: Dạ, vấn đề cái sự tiến hóa đó, con cũng có học về sinh vật đó, Thầy, thì hồi xưa vũ trụ là không có gì hết, như mình biết, mới đầu là những, [mp3.2- 24:21]

Đức Thầy: Chồng thương yêu cũng có, không muốn tu chớ không phải khắt khe.

Bạn đạo19: Nhưng mà con thì ...

Đức Thầy: Sợ mình sai lầm, yếu dạ, yếu vía, bị người ta gạt!

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Thì, ở nhà mình tu; thấy không ?

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Chớ mình có chùa tu rồi,

Bạn đạo19: Dạ, thưa Thầy, nếu mà,

Đức Thầy: Có sư tu rồi! Học nhịn nhục để tu, chớ không có sao hết!

Bạn đạo19: Dạ. Thầy nói vậy thì một thời gian sau chồng sẽ hiểu?

Đức Thầy: Hiểu.

Bạn đạo19: Thông cảm cho?

Đức Thầy: Mình càng ngày càng tu càng đàng hoàng, làm việc có trật tự.

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Biết chồng mình là một vị Phật, một vị thương yêu.

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Thương yêu vợ vô bờ bến: trong những đêm thanh vắng, chung đụng ân ái với nhau là thương hết sức thương; cái đó là thương, thương thật; làm sao mình nói chuyện khắt khe được?

Chồng không có khắt khe với vợ đâu, mà vợ cũng không có khắt khe với chồng! Trong mầm móng thương yêu! Phải hiểu cái phần thanh tịnh đó mới giải quyết được gia đình; trách móc lẫn nhau, không bao giờ xong! Trách hoài, trách hoài; còn trách hoài, không có bao giờ giải quyết được.

Bạn đạo19: Dạ thưa Thầy, con cũng có giải thích này nọ, nhưng mà chồng con cũng không có muốn mà để...

Đức Thầy: Chưa có trình độ. Ráng tu đi.

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Ở nhà tu.

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Mình có chùa, có sư; cứ việc tu với sư, thì đắc đạo à, không sao hết đó.

Bạn đạo19: Dạ cảm ơn Thầy. [mp3.2- 25:47]

Bạn đạo1: Câu hỏi thứ nhất: xin Thầy cho biết tầm quan trọng, trước giờ phút lâm chung, người ta phải chuẩn bị như thế nào?

Đức Thầy: Trước giờ phút lâm chung, này là những người Vô Vi đang chuẩn bị nè: đêm đêm lo tu, xuất phát cao tầng khỏi cơ thể, không bị uy hiếp, là chính người đi đúng luật của trời, đất.

Còn người không có chuẩn bị cho kỳ chết, là không tu! Chết là yếu lắm: con ma rủ cũng đi.

Còn những người tu Vô Vi này là chuẩn bị cho cuộc chết rồi: cuộc sống họ có rồi, chỉ lo cho cái cuộc chết! Cuộc đời này quan trọng 2 điểm: điểm sống, và điểm chết. Điểm sống, chúng ta có hiện diện hết; bây giờ cái chết phải ra thế nào? Tự chủ thì tốt! Bây giờ những người tu Vô Vi là muốn, “Tự chủ khi tui chết,” thay vì lệ thuộc!

Bạn đạo1: Câu số hai: trong khi ngồi thiền ngửi được mùi thơm; con xin Thầy cho biết mùi đó từ đâu ra?

Đức Thầy: Người đó nó thì gieo duyên của các cõi cũng có; cái trình độ tâm thức của mình đi lên cao hay là thấp, ở giới nào? Ở giới Tiên thì thường nghe những mùi vị thơm tho, như trầm nhẹ đồ, này kia, kia nọ, có phảng phất cái mũi chúng ta; mà người đó là ăn chay tinh tấn là mới hưởng được cái mùi đó; họ ăn mặn là không có; và tâm thức cao siêu thanh nhẹ mới được.

Bạn đạo1: Kính thưa Thầy, con ăn tối rất ít để đêm thiền cho nhẹ và ngồi được lâu. Sau khi thiền suốt đêm xong, con ăn no, rồi đi ngủ; như vậy có gì không tốt, hay không?

Đức Thầy: Thà chúng ta nhịn đói thì nhịn đói luôn để đi ngủ, để rèn luyện cái ý chí, cái dũng chí! Cứ việc để yên vậy đi ngủ chớ; không sao!

Bạn đạo1: Trong trường hợp con không ăn đầy đủ thì con cảm thấy bị yếu sức và dễ bị bệnh cảm.

Đức Thầy: Cái đó là ban ngày mình phải ăn đầy đủ; mà ban đêm đó, muốn bớt bệnh cảm đó, phải làm Pháp Luân Thường Chuyển nhiều, thì cái dưỡng khí nó chuyển chạy đầy ngũ tạng, nó mới chống trả được ngoại xâm.

Bạn đạo1: Thưa Thầy, con mới tập Chiếu Minh, con cảm thấy hơi đau và giựt giựt ở huyệt Hợp Cốc; chắc là cái tít chắc, Hợp Khúc, nơi đây.

Quý vị nào viết cái này cũng không lên nói rõ là nơi nào, để Thầy giảng; Hợp Cốc?

Xin Thầy giải thích cho con; cảm tạ Thầy.

Đức Thầy: Cái đó là nó có hiệu lực, khí nó vận hành dưỡng ??? chạy, đó là hiệu lực; cứ làm tới đi rồi nó sẽ yên à, không có giựt nữa. Thì nó chạy trong ngũ tạng, trong cái huyệt nó chuyển chạy đều đặn: cái Hợp Khúc là nó liên hệ với cái bao tử đó; hít vô thì những cái thần kinh nó chuyển chạy, thì có hiệu lực; cứ làm tới đi thì nó sẽ nhẹ.[mp3.2- 28:50]

Bạn đạo1: Xin mời Chị.

Bạn đạo19: Con có lời chị của nhỏ Anh đó, Thầy: con mới tu được 6 năm rồi, (nghe không rõ) nghe cậu nó nói lại, tốt như thế nào.

Đức Thầy: Dạ.

Bạn đạo19: Thì con thấy tốt cũng như ở nhà, và đêm đêm con ngồi thiền. Và, thưa Thầy, con muốn là Thầy giải đáp cho tụi con như thế này: bởi vì hồi đầu đó, con nhắm mắt, con thấy màu xanh rất là đẹp, con nghĩ ra; rồi năm sau rồi cũng ngồi như vậy nữa, mà cái này nó ngay chỗ này...

Đức Thầy: Rất rốt; rất tốt; cái đó là đi về Triết Giới rồi; thích nghe băng giảng.

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Triết Giới.

Bạn đạo19: Hôm nay con được gặp Thầy, và con ít có đi thiền đường lắm.

Đức Thầy: Dạ.

Bạn đạo19: Như vậy có sao không, Thầy?

Đức Thầy: Đâu có sao; Thiền Đường đâu có phải chỗ tu! Cái óc mình mở mới là tu. Ở nhà mình tu, óc mở, nó mới được. Thiền đường đâu phải, thiền đường người ta tới là nhận cái pháp; điển nhẹ, mình ngồi thiền trong Thiền Đường là để đóng góp cho nó thanh nhẹ mà mình đi thôi, chớ không có bắt buộc; không có bắt buộc người ta phải tới thiền đường! Mà Bác cứ thiền ở tịnh xá tâm với bạn hiền: thiền đường trong tâm mình đó! Mỗi đêm mỗi tu là nó hết à!

Bạn đạo19: Con xin hỏi 1 câu nữa: thì khi ngồi, lần đầu tiên đó, ngồi 2 giờ; sao con hơi lo sợ; con sợ cái, con nghĩ tới Thầy; nhiều khi con thấy chậm nữa, nhắm con mắt, thấy, nhiều khi con thấy Thầy nữa !

Đức Thầy: Đừng có sợ! Bởi vì mình qua một cái giới, cái giới đó, cũng như bây giờ mình mở mắt thấy, nhưng mà nhắm mắt thấy, là mình trở về cái giới cũ của mình! [mp3.2- 30: 44]

Bạn đạo19: Dạ.

Đức Thầy: Về quê hương, về chốn cũ của mình: những cái duyên của mình, mình được tái ngộ, chớ không có sợ gì hết: đã giáng lâm xuống thế gian, hiện ra làm con người ở thế gian, quen sống ở thế gian, nhắm con mắt thấy cảnh kia, thấy sợ! Cái cảnh kia, cảnh cũ, đâu phải cảnh mới!

Bạn đạo19: Con xin hỏi Thầy: mà con (nghe không rõ) thành ra khi mới thì con hay tê chân, bây giờ ngồi chừng 20 phút, 15 phút thôi; mà con thiền thì khuya quá, nó hay buồn ngủ, nó hay ngủ gật; con có khi thiền tới 11 giờ, 11 giờ rưỡi; như vậy có được không ?

Đức Thầy: Được; được; 11 giờ trở đi là được rồi; Thiền được bao nhiêu, thiền. Nhưng mà muốn cố gắng kéo dài đó, thì 1 tuần lễ tăng 1 phút thôi, đừng có tăng nhiều; thì nó vừa sức; cuối năm nó ngồi thoải mái lắm, một tuần tăng một phút thôi. Làm chuyện chính mình có 1 phút, mà lo chuyện bao đồng thị phi người ta, tiêu hao sức, hao khí, lại bằng lòng! Mà trở về với chính mình 1 phút, khó khan, nhiều khi khó khăn lắm! Mà phải làm!

Làm thét nó có! Cũng như dệt áo vậy mà: nay dệt mũi kim, mai dệt mũi kim; dệt nó thành miếng vải may áo bận.

Bạn đạo19: Con ráng kiên nhẫn lắm đó, Thầy!

Đức Thầy: Ừ, ráng đi; lỡ rớt xuống giếng rồi: xuống thế gian là rớt xuống giếng rồi; ngoi lên giếng cũng ráng từ từ leo lên, chớ leo cái ào, mất sức!

Bạn đạo19: Con cám ơn Thầy![mp3.2- 32:20]

Đức Thầy: Dạ.

Bạn đạo1: Xin mời chị Tư.

Bạn đạo20: Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình; kính thưa Thầy; 9 năm rồi con theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí, thì con đã đem lại nhiều sức khỏe cho con. Có một hôm tình cờ làng xóm hỏi con về vấn đề Pháp Lý Vô Vi, cái phương pháp, người ấy muốn tu nhưng mà đầu óc còn hoang mang không biết cái pháp nào hay? Thưa Thầy, xin cho con biết, khác với pháp Quan Âm những cái điểm nào với, Thầy?

Đức Thầy: Ở đời này thường nghe ca tụng Quan Âm; nghe tới 2 chữ “Quan Âm,” ai cũng thích! Pháp Lý Vô Vi là không có đêm nào rời khỏi Quan Âm! Với một phương pháp khứ trược lưu thanh, bộc lộ ánh sáng chiếu rọi sự tăm tối của chính mình, ăn năn hối cải để tiến hóa, thì Thức Hòa Đồng nó mới dẫn tiến thích hợp Bên Trên điển giới thanh nhẹ và không còn mê chấp. Pháp nào cũng hay. Họ nói thế gian ai cũng thích Quan Âm: “Tui nói cái pháp của Quan Âm,” mà, “Tui chỉ cách nào?” Ai cũng thích đó; chỉ dội ngược, hay là chỉ hướng thượng? Cái đó hổng biết!

Chớ còn Pháp Lý Vô Vi này là khứ trược lưu thanh: tất cả chúng ta đều trần trược: nhìn thấy, thu hút sự trần trược; nghe,cũng thu hút sự trần trược, giận hờn; nói, cũng không đứng đắn! Thì bây giờ chúng ta phải khép mồm, khai thông cơ tạng, cho Bên Trên mới tạo thành Điển Tâm hòa hợp của chấn động của Thanh Quang Bề Trên, thì tâm trí nó mới mở, tâm thức mới được khai quang.

Chớ còn những cái pháp Quan Âm làm thế nào, tui không biết; chớ đúng Quan Âm là một vị từ bi, một vị Cổ Phật cứu giúp chúng sanh. Cổ Phật là cái gì?

Là ánh sáng từ bi vô cùng, ẩn tàng trong tâm thức của mọi người.

Cho nên mọi người nhắc tới Quan Âm, ai cũng cảm động: “Tui thờ Quan Âm!” Cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm, là tâm từ bi của mọi người có; phát triển tâm từ bi thì Ngài ngự nơi đó; tâm chúng ta càng ngày càng lớn rộng là chúng ta đã xây dựng được cái dinh thự cho Quan Âm!

Chớ không có nên mê tín dị đoan để nói là, “Tui chết, rồi kêu tui đi lên trời”! Cái đó không có! Ông Phật không có làm điều đó. [ mp3.2- 35:31]

Mình phải xây dựng cho một cái cơ đồ đầy đủ: có khối óc, có tay, chân, Tiểu Thiên Địa đầy đủ: có dinh thự mà không biết xây dựng cái dinh thự tốt đẹp, thì có kêu ông Trời cũng vô ích! Ổng không có nghe, ổng không có vô, ổng tới làm cái gì?

Mình phải thanh nhẹ mình mới rước được sự thanh nhẹ!

Cho nên, phương pháp của Vô Vi là khứ trược lưu thanh: ngày ngày, đêm đêm lo gội rửa tâm thức của chính mình, lấy cái Pháp Thủy của Trời, Đất, là Nguyên Khí của Trời, Đất, để giải mở sự trần trược của nội tâm, thì phần hồn mới được thăng hoa thanh nhẹ.

Trong thực hành, chớ không có lý thuyết!

Bạn đạo20: Thưa Thầy, sao như Sư Cô Thanh Hải bảo rằng, theo pháp Quan Âm sẽ thành Phật và bệnh hoạn sẽ được tiêu tan, phần hồn sẽ được thăng hoa. Vậy theo Pháp Lý Vô Vi, có thể thành Phật và thăng hoa không, Thầy?

Đức Thầy: Pháp lý Vô Vi mà mình làm, mình chứng nghiệm được, thì mới thấy rõ là mình có cơ duyên tiến về Phật; bởi vì căn bản mình là Phật trong tâm: thương yêu, biết xây dựng nền tảng thanh nhẹ, thì về xứ Phật.

Ở chốn thế gian, đâu có chỗ nhẹ mà ở! Phải nặng, phái đá, đấm được mới ở được đây.

Mà nhẹ bổng vậy, đâu có ai cho cất nhà cho ở đâu! Nhẹ bổng, đi về trời ở!

Còn Sư Thanh Hải nói sao? Sư Thanh Hải nói những cái câu đó là tạo duyên cho người thế gian thức tâm để đi tu: người thế gian hướng về Trời, Phật để tu, mà thôi, chớ không có ác ý gì hết.

Bạn đạo21: Thưa Thầy, theo như Pháp Lý Vô Vi, có phải bắt buộc ăn chay như Pháp Quan Âm không, Thầy?

Đức Thầy: Không bắt buộc: Vô Vi là khai triển điển năng trong cơ tạng và khối óc về tâm linh hướng thượng, thì mình tiến tới giới nào phải giữ giới đó; cái đó kêu bằng “Giữ giới”; chớ không phải ăn chay là thành Phật! Ăn chay thành Phật,trâu thành Phật hết rồi! Không có! Con trâu, con bò ăn cỏ không mà!

Cho nên, chúng ta phải giữ giới, điển giới, tu thanh nhẹ tới đó; như, “Đêm nay tui dốc tâm tui thanh nhẹ, tui phải giữ phần đó, tui đừng có cãi lộn, tui đừng có nói dối; tui đừng có phỉnh phờ cho tui động loạn khổ thêm; tui phải giữ giới: cái giới nào tui đạt được, tui giữ.”

Trong cơ tạng con người, nó có Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; tim, gan, tì, phế, thận; 5 giới đó đều phát triển. Mà càng tu Vô Vi thì nó phát triển, nó có ánh sáng, “Ngũ sắc, ngũ quang; huyền sắc, huyền quang” rõ rệt; phải giữ những màu sắc đó thăng hoa để đi tới.

Cho nên, cái pháp Vô Vi là cái pháp để kiểm soát hành động của chính mình: “Tối nay tui ngồi tui thấy ánh sáng thanh nhẹ; mà tối mai tui ngồi gật gà, không phát triển được, tui mới ăn năn nhìn lại: ngày nay tui làm được gì? Tui có chống lại ai không? Tui có hại ai không? Mà tui có hại tui không? Tui có ăn bậy không?” Cái đó là cơ hội để mình kiểm thảo sự sáng suốt của chính mình đến đâu.

Cho nên, cái phương pháp của Vô Vi này không có cần phải gần ông sư; mà nhận cái pháp, về nhà ngồi 1 góc đó tu cũng được rồi. [mp2.2- 39:05]

Đi tới Phật thì Phật chứng, đi tới người thì người thương, tới ma thì ma nể, mới là pháp, có pháp lực tu học. Có nắm pháp tu thì mới phát triển được Pháp Lực; còn nắm pháp tu ???, cái đó không phải tu ???

Bạn đạo21: Người hàng xóm có tu theo con không, Thầy, hay là tu theo pháp của Phật Thanh Hải?

Đức Thầy: Không, họ tu theo bà Thanh Hải tốt chớ, đâu có xấu; họ giữ nghiêm luật đó mà họ tu là tốt; chỉ sợ họ giữ không nổi.

Còn họ muốn tu theo đằng này thì Con phải hành đúng và ảnh hưởng họ: “Chỉ tui coi tui làm sao? Gia đình tui làm sao?Thần sắc tui làm sao?” Mỗi đêm mình hành như vậy đứng đắn thì người ta coi, đó là sức hút ảnh hưởng họ.

Chớ không cần họ phải kêu là đi theo mình; kêu người ta theo mình, người ta đổ thừa!

Người ta thích, là người ta tự phát triển; đó là đúng đường.

Còn kêu người ta theo mình, là người ta ỷ lại rồi: “Tui theo Bà; Bà lo tui, chớ Bà không lo!” Nhiều khi mình quên, đâu có lo cho kịp: ăn, nghỉ, ngủ; nhiều chuyện, làm sao lo cho hết? À; rồi nó trách mình!

Nó phải tự lo!

Bạn đạo: Thưa Thầy, như vậy là người ta biểu con phải giải thích, chỉ giải thích thế nào về vấn đề khai ngộ; thì giờ con có đáp như thế này: người ta thì nói là khai ngộ, bà Thanh Hải nói rằng, “Theo tui nghĩ, cái pháp của bà Thanh Hải là ''Khai ngộ,” là về trời, phải không chị Tư?” Nhưng con trả lời như thế này, “Theo tui nghĩ, ‘Khai Ngộ’ là mình nhìn thấy được mình, thấy những cái thói hư tật xấu của mình”; như vậy có đúng không, Thầy? [mp3.2 40:49]

Đức Thầy: Nho, nói theo từ Việt Nam, là “Mở; gặp”; kêu bằng “Khai ngộ”. Còn nói chữ Nho, nói tiếng Tàu, khai ngộ! Tui, Việt Nam; là mở, là gặp, mở cửa; là gặp.

Còn Vô Vi, bây giờ đang Soi Hồn, kêu “Mở cửa”; mở cửa là gặp đó! Tiên, Phật gần xịt chớ đâu có xa. Tại không mở được cửa thôi! Phải hành là vậy đó: tu hành mới cải tạo tân tiến khối óc được; tu mà không hành, không có cải tạo, và khối óc không có tân tiến được.

Bạn đạo1: Xin mời anh Minh.

Đức Thầy: Bà con tu rồi, thấy mình một gia đình, người nào người nấy cũng liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ là một, chớ đâu có xa biệt gì đâu? Lên nói chuyện cho vui.

Bạn đạo: Thưa Thầy, thưa các Bạn.

Đức Thầy: Tiếng Tàu, nói tiếng Tàu! Tiếng Tàu, tiếng Quảng, tiếng Tiều cũng được; tiếng Phúc Kiến cũng được.

Bạn đạo: (nghe không rõ)

Đức Thầy: (nghe không rõ) Cho nên, ổng hỏi, muỗi cắn; bây giờ mình giết con muỗi là nghiệp.

Làm sao có trí thông minh? Trí thông minh nó có cách bảo vệ những con vi trùng: tâm nó làm thân nó chịu!

Còn con người nó giết một con trâu hay là một con gà, đau đớn lắm; tâm mình thấy cảm thức sự đau đớn! Mà tại sao?

Mình có cái lượng chất từ bi, mình thấy con gà chết, “Tội nghiệp quá, nó bỏ con nó, ai nuôi đây? Giết nó, đành sao giết?” Cái tâm mình tự thức, mình có cơ hội thức tâm, mình thấy mình có tâm từ bi. Con người khác hẳn con thú ở chỗ đó.

Bạn đạo: Thưa Thầy, sau đây là một số câu hỏi nữa: [mp3.2- 44:17]

[kết thúc ID# 19860100Q9-2]

[ID#19860101Q5]

KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2A

.....

ĐT: Bởi vì nó nhiều cái lắm; bổ túc còn sự thắc mắc không? Muốn biết á, bổ túc luôn cho Sáu Chữ đó, cho nó xong một lần cho rồi. Hồi nẫy giờ nghe còn nhớ, hay là quên rồi, quên hết rồi? À, nhớ, nhớ chỗ nào, bây giờ nói nghe coi?

BĐ:…(nói nghe không rõ)

ĐT: Ừ, một luồng điển âm và một luồng điển dương nó lên nó tụ chỗ Bá Hội này này; thấy không? Cho nên hai bên mình phải quy một; hai cái xuất điền nó tìm một giao điểm ngay trung tim này; và trung tim này, thấy không? Nó mở ở đây, và nó mở ở đây. Cho nên bắt mình nhắm mắt ở đây, rồi từ đây nó sẽ mở. Cái lửa có, thì cái cảnh nó mới có. Hiểu không? Hai cái xuất điểm nó tìm một giao điểm mà! Bên tả,bên hữu mà; hai khối thần kinh. Người ta nói “Hai luồng, hai luồng”; nhưng mà nó hai khối thần kinh! Nó đi một sợi giây, hai cái âm,dương, lên nó hợp; tả, hữ quy một; nó mới thành; nó liên kết với cái “Thiên xích,” cái khí trời.

BĐ:… ở chỗ nào thì mình không hiểu được. Còn ba cái ngón tay chặn (không nghe rõ)

ĐT:

BĐ: Hai luồng điển âm, dương không có liên hệ với cơ thể,

ĐT: Liên hệ với cơ thể chớ! Bởi vì hai cái luồng điển… cái cơ thể này là về vật chất, là để cho hai luồng điển nó di chuyển. Luồng điển nó từ trong cái cơ thể này chớ! Rồi cho nên mình tu, khứ trược lưu thanh, khứ trược lưu thanh, nó xuất ra, nó mới thành một cái cơ thể như ở thế gian, mà nhỏ hơn.

BĐ: Nếu ai có hỏi hai luồng điển âm, dương đó nó ở chỗ nào trong cơ thể, thì mình không chỉ được; nhưng nói giải thích,

ĐT: Điển chớ! Người ta nói giải thích về điển! Từ hồi nẫy giờ, không nghe! Về điển: điển trong cơ thể, có điển âm và điền dương; hai luồng thần kinh đó nó quy hội; thấy không? Hai luồng nó mới xuất phát đi lên trên. Chị nghe thấy rõ chỗ đó không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Điển mà!

BĐ: Dạ.

ĐT: Nẫy giờ nói về điển mà;

BĐ: Dạ.

ĐT: Cái sức nóng ở bên trong đó!

BĐ: Dạ.

ĐT: À; để cho nó chuyển chạy trong cái khối thần kinh trong cơ thể. Ừ, cho nên do những cái điển đó người ta mới khám phá ra cái nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”. Cái chấn động; chấn động là điển! Ờ, nó mới khám phá ra sáu cái luân xa đó!

BĐ:…(nói nghe không rõ)

ĐT: Ừ.

BĐ:… Nam Mô A Di Đà Phật :…(nói nghe không rõ)

ĐT: Đó! Đó là nó hội rồi đó! Hai cái kinh mạch hội nhau rồi đó; thì nó mới liên hệ, nó đi lên! Khi mà nó trụ rồi á, thì chỉ thấy ánh sáng thôi; không có sự nhịp nữa! Mình còn yếu và mình còn dính dấp về tình dục thì nó vậy thôi; mà khi mà trụ rồi, nó không còn nữa! Nó chỉ một bầu sáng suốt, nhớ Nam Mô A Di Đà Phật, thì dòm cái gì cũng nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”. Cả càn khôn vũ trụ đều nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; cây cỏ đều nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; mình mới thấy cái nguyên linh của vạn vật. Đó! Mình trụ là mình mới thấy! Thấy không?

Còn nhiều người cứ còn nhịp nhịp, nhịp nhịp, nhịp nhịp như vậy là không có được; bị yếu rồi; có hao phí; không có trụ!

Mình cố gắng, mình bớt lần lần, nó sẽ đi tới; nước miếng ngọt là rồi, nó trụ rồi đó!

BĐ:Lâu quá rồi con không có dịp đọc lại lịch sử của Đức Phật,

ĐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà có nhiều câu hỏi đã hỏi trong quá khứ, trong đó mới đây cũng có một vài người bạn hỏi, hình như những người bạn đó không có mặt ở đây.

ĐT: Ừ.

BĐ: Là họ nói là, nếu con không lầm, thì đằng chùa theo đằng lịch sử của đức Phật, thì Phật Di Đà có trước Phật Thích Ca.

ĐT: Ừ.

BĐ: Cho nên mới niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật.”

ĐT: Ừ.

BĐ: Rồi bây giờ mình giải thích cho họ biết là Phật Thích Ca có trước,

ĐT: Ừ.

BĐ: Giảng đạo cho Di Đà nghe.

ĐT: Ừ.

BĐ: Thì họ hỏi, “Tại sao không niệm, ‘Nam Mô Bổn SưThích Ca Mâu Ni Phật’?

ĐT: Ừ.

BĐ: Vấn đề kế nữa là, họ hỏi chớ, con nói là, “Nam Mô A Di Đà Phật” nó là cái nguyên lý chớ không phải tên của một vị Phật. Mà người theo bên Đạo Phật thì cho đó là tên của đức Di Đà, và có thờ đức Di Đà hẳn hòi;

ĐT: Ừ.

BĐ: Họ cho là đức Di Đà có trước đức Thích Ca.

ĐT: Ừ. Cho nên họ còn chưa hiểu: đức Thích Ca có trước, Ngài mới chứng cho Đức Di Đà hành đạo. Cho nên, niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” là hành đạo đó; hiểu không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Còn đức Thích Ca là chứng cho đức Di Đà.

BĐ: Dạ.

ĐT: À; đó là họ, bây giờ họ là quen với ông chef, họ chơi với ông chef, không chơi với ông phó! (cười!) Họ không chơi với ông phó; ông phó là ông hành sự! Phải không?

BĐ: Dạ.

ĐT: À! Cũng như trong cái tổ chức cũng vậy: Ban Chấp Hành hành sự; thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Ông A Di Đà, đức Thích Ca nói cho ông A Di Đà nghe; ông A Di Đà hành sự!

BĐ: Dạ.

ĐT: Độ chúng sanh!

BĐ: Dạ.

ĐT: Họ không hiểu; rồi họ đem gom cái quyền năng của đức Phật vô trong cái hình mà thôi! Giới hạn!

BĐ: Dạ.

ĐT: Thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Có thờ ông Di Đà là ông Di Đà lớn hơn hết!

BĐ: Dạ.

ĐT: Họ giới hạn cái quyền năng! Còn ở đây mình đi về linh điển. Hai cái khác nhau.

BĐ: Dạ.

ĐT: Sống động. Còn một cái kia, đóng khung! Hai cái khác nhau.

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, cái đó phải qua một thời giải thích lâu lắm họ mới thức ra được. Họ chỉ dòm bề ngoài, họ bị tứ quan phỉnh họ là, “Ông Phật này mới thiệt, ông Phật kia không đúng!” Nhưng hỏi chớ, “Ông nào làm ra ông Phật này?” Thì, “Ông thợ ổng làm ra ông Phật này.” Mà “Ông thợ ổng thấy ông Phật hồi nào?” “Chưa bao giờ thấy!” Hỏi, cái nào đúng? Ổng cũng chịu à!

BĐ: Dạ.

ĐT: Thấy chưa?

BĐ: Dạ.

ĐT: Còn mình ở đây á, mình khai triển hai cái kinh kệ của mình trong nội tâm mình mở ra; rồi mình đi tới đảnh lễ Ngài và xác nhận Ngài,là vậy.

BĐ: Dạ.

ĐT: Thì cái nào chắc hơn? Thấy chưa?

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, họ cứ ôm cái lý và họ bảo vệ cái lý, thì càng ngày nó nó càng ở trong chỗ eo hẹp và không có tiến triển được.

BĐ: Dạ

ĐT: Thành ra họ, những người hành về Pháp này, cái tâm trạng họ thế nào sau sáu tháng? Và những người hành về pháp bên kia, tâm trạng họ thế nào? Một người chấp, và một người phá chấp.

BĐ: Dạ

ĐT: Vì người này đã đi rồi, tự nhiên nó phá chấp; còn người chấp kia mà trật khuôn khổ một chút là không chịu!

BĐ: Dạ

ĐT: Kêu bằng người chấp và người phá chấp.

BĐ: Dạ

ĐT: Hai cái khác nhau (cười).

BĐ: Dạ. Như vậy thì chữ Lục Tự, “Nam Mô A Di Đà Phật” nó là cái nguyên lý,

ĐT: Hành sự.

BĐ: Hành sự; dạ.

ĐT: Phật sự,

BĐ: Dạ

ĐT: Độ tha.

BĐ: Dạ. Còn cái, cũng …

ĐT: Cái hào quang là chánh.

BĐ: Dạ; mà nó cũng là cái tên của A Di Đà?

ĐT: Cái đó là cái chấn động, để mở.

BĐ: Dạ.

ĐT: Để mở cái đường đi;

BĐ: Dạ.

ĐT: Mà đi rồi là hào quang, chớ không có cái, “A Di Đà Phật” gì nữa hết đó!

BĐ: Dạ.

ĐT: Ở thế gian phải mượn,

BĐ: Dạ.

ĐT: Như họ mượn cái hình, họ nói đạo; họ mượn cuốn sách, họ gỉai chơn lý; hộ mượn cái micro, họ nói ra có âm thanh lớn rộng; Anh thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Mượn; thế gian là mượn. Còn ở trên kia là Chơn, Hành, Trụ; mà bất hoại! Hai cái khác nhau.

BĐ: Dạ.

BĐ:(nói nghe không rõ) … “Nam Mô A Di Đà Phật” là phương tiện…

ĐT: Phương tiện; phương tiện để đi tới; phương tiện để đi tới, mà không có bị sai lạc! Đó là căn bản để tiến hoá đó!

BĐ:(nói nghe không rõ)

ĐT: Ừ, cũng là tên.

BĐ:(nghe không rõ)

ĐT: Đó; thì trùng vậy đó! Ừ, cũng như bây giờ Chị, Phạm Thị Tranh; người ta nói, “Chị Tranh” thôi chớ! Nhưng mà cắt nghĩa cái “Phạm Thị Tranh” nó lớn lắm á! Không biết cắt nghĩa thì thấy, “Phạm thị Tranh” thì “Chị Tranh,” chớ có cái gì đâu? (cười) Phải không? Rồi cắt nghĩa tới tâm tư của chị ấy, chị ấy giáng lâm xuống thế gian, “Phạm Thiên Đình giáng thế”; (cười) tôi cắt nghĩa cho nghe; phải không? Rồi, “Thị hoà tâm sự tự khen chê,” (Thầy và b/đ cười) À… “Tranh đua thế sự đều hư ảo”; phải không? (cười) “Có có, không không, phải thực hành.” Có gì đâu? Tui cắt nghĩa như vậy đó; Phạm Thị Tranh, tui cắt nghĩa như vậy đó; cũng được vậy! Còn cắt nghĩa nữa nó còn rộng nữa; nó là vô cùng, chớ không phải “Phạm Thị Tranh” một chút vầy! Người ta nắm một chút lý này người ta nói hoài; thét rồi thằng này một chút à, thằng kia rồi mất, còn một chút nữa, thằng kia mất một chút; thằng này còn có một chút nữa, thành ra nó bỏ luôn! Phạm thị Tranh cũng mất luôn à! (cười)

Cũng như đức Di Đà cũng mất luôn! Qua tới Tây phương, đâu có ai biết ông A Di Đà là ông nào đâu? Đưa hình cho coi, nó nói “Một thằng cha đổ rác, chớ có gì đâu!” Phải không? Cũng mất luôn! Mà người hành đó, nó lại kính; luôn luôn ở trong tâm!

Cho nên, phải lấy cái thật; không lấy cái giả được; cái giả nó làm mất luôn! Phải không? Mấy ông Tây, mấy ông Úc này nó qua Đông Nam Á, “Mấy thằng cha đổ rác giống vậy, chớ gì?” Ờ, nó nói vậy đó! Rồi làm sao? Bị nó thấy làm sao nó nói vậy thôi.

Nhưng mà cái nguyên ý là sống động, bất diệt, lớn rộng vô cùng. Một cái cọng cỏ cũng có giá trị vô cùng; một hạt cát cũng có giá trị vô cùng; mà chúng sanh chưa thức, mà thôi: đem cái hình này, khen cái hình nọ, bỏ cái hình kia; tạo kẹt cho chính mình mà không phát triển;chớ kỳ thật là quý vô cùng! Tên người nào đều có nhiệm vụ xuống thế gian hết, mà không biết; tới đó sẽ hay, chớ không biết.

BĐ:… Cho biết trước?…(nói nghe không rõ) (b/đ cười)

ĐT: Hả? Nếu cho biết trước, nó đâu có thèm làm! (b/đ cười) Chọc, nó đâu có giận; cho nó biết trước, chọc nó, nó không giận, nó không làm!

BĐ:(nói nghe không rõ) cái luồng điển nóng nó chạy lên tới đầu.

ĐT: Ừ.

BĐ: Mà một thời gian sau khi mà cục sáng đó nó sáng tỏ lên rồi thì nó không còn nóng nữa;

ĐT: Ừ.

BĐ: Như vậy, nó không còn nóng nữa là tại vì hôm đó mình yếu sức mình không có thở đúng,

ĐT: Ừ.

BĐ: Hay là vì thở một thời gian, cái trình độ nó đi lên thì nó không còn nóng? Thầy cho con biết là,

ĐT: Cái nóng đó là chứng minh cho mấy người mới tu, mà thôi; còn cái người tu lâu, nó mát, chớ làm sao nóng?

BĐ: Dạ.

ĐT: Bởi vì nó hoà với thanh rồi, nó đâu còn nóng nữa?

BĐ: Dạ.

ĐT: Hoà với thanh nó xuất ra, nó quen rồi! Còn hồi mới xuất ra là cái nhẹ với cái nặng, hai cái nó nghịch lại, nó nóng;

BĐ: Dạ.

ĐT: Cọ sát mới nóng. Còn nó hoà rồi, nó không có nóng nữa; hết rồi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nó mát! Nhưng mà người khác rờ thì cảm thấy nóng nóng; nhưng mà chính nó, nó không thấy nóng. Nó quen rồi.

BĐ: Dạ. Cái hơi Pháp Luân Thường Chuyển của mình đó, mỗi khi mình thở, có hôm thì nó thật nóng,

ĐT: Ừ.

BĐ: Mà có hôm thì nó thật lạnh. Thành ra như vậy là cái sự nóng, lạnh đó là tuỳ theo cái,

ĐT: Cái thực phẩm ở trong nội tạng.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nhiều khi ăn nhiều nó cũng có cảm thấy nóng vậy. Nhưng mà làm Pháp Luân một hồi rồi, nó hoà tan hết rồi, nó là lạnh; lạnh cũng như máy lạnh; mát, chớ không phải lạnh; không phải lạnh, mát chớ không phải lạnh.

BĐ: Dạ. Cái cảm giác mà luồng điển nó đụng lên trên tới Nê Hoàn Cung đó,

ĐT: Ừ.

BĐ: Khi mà mình ép thật sát vô đó,

ĐT: Ừ.

BĐ: Thì mình nghe nó đụng một cái “kịch” ở trên đó.

ĐT: Ừ.

BĐ: Như vậy là vì mình thở nó quá rung chuyển nó như vậy, hay là mình làm trật?

ĐT: Không phải. Khi mà nghe đụng đó, là, Chị thấy đương đi lên, nhưng mà nó đã đang đi ra.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nó đã đang đi ra, nó chưa đủ lực lượng, ở trên kia nó hồi lại, nó nghịch một cái. Mình đụng cái kịch, là mình thấy cái điển mình hồi lại.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nó mới kêu một cái kịch; nó lắc một cái.

BĐ: Dạ.

ĐT: Là nó hồi lại.

BĐ: Dạ.

ĐT: Còn yếu.

BĐ: Dạ.

ĐT: Mà sau này nó mạnh rồi á, không phải hít nữa: ý nghĩ là nó đi thông suốt tuốt luốt à! Cái ý nghĩ!

BĐ:Khi mà nó mạnh rồi là cái hơi ra, vô nó thật nhẹ;

ĐT: Ừ, nó nhẹ; mà cái ý nghĩ là nó đi thông suốt; nó không có bị nghịch nữa! Mà chừng nào Chị cho nó nghịch, nó mới nghịch: cắt nghẽn một cái là nó nghịch à! Như tui, bây giờ tui để cho thông suốt; rồi bây giờ tôi cắt nó một cái, là nó nghịch à! Giựt mạnh lắm! Để rồi tôi cắt thử coi. (Thầy giựt hai lần) Đó, rung hết à! Đạp một cái, chặng một cái; ở trên mình đạp một cái là rung hết cả cơ tạng.

BĐ: Như vậy là cái trình độ…(nói nghe không rõ)

ĐT: Mình điều khiển nó được! Mình điều khiển, mình đi, về, được; rõ rệt vậy. Mà nó ê cả cái đầu à; chớ không phải làm hai cái đó rồi là khoẻ đâu; ê lắm, nặng cái đầu lắm! (cười) Nó rời trở lại mà!

BĐ:…(nói nghe không rõ)

ĐT: Làm sao mà thở mệt? Nó thông, nó đâu có mệt? Nó thông nó càng ngày càng mạnh. Cho nên, đây rồi sẽ kiểm soát cái Pháp Luân của mấy vị hết.

ĐT: Rồi, anh này hỏi; đưa tay lên hỏi?

BĐ: Dạ thưa Thầy, con tập theo cái lối hít thở, thì nó có cái hiện tượng như thế này: nó nổ từ ngang cổ nó nổ lên, lốp bốp, lốp bốp như,

ĐT: Ừ.

BĐ: Ở trong đầu thấy nó như pháo hoa,

ĐT: Ừ, ừ.

BĐ: Thì con không biết nó đi vậy nó đi tới đâu, Thầy?

ĐT: Ừ; cái đó tốt;

BĐ: Dạ.

ĐT: Cái đó tốt. Anh cứ việc trụ ở đây, há; cho nó nổ nữa, nổ nữa. Nó giải cái trược khí ở trong gan Anh nó ra luôn; thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Rồi sau này nó có chẩy nước mắt Anh cũng thây kệ, cứ làm cho nó ra hết đi; lọc hết cho cái hoả Can, thì con người nó thấy rằng dễ hoà lắm; nó hết nóng. Cái đó hay lắm, cái đó quý lắm; cứ việc làm tới đi; cái hoả hầu nó đương xông lên; tông nó ra.

BĐ:Con hỏi một câu thứ hai nữa: Mỗi người có một cách tu, mà ngày hôm nay con đối diện với Thầy, con muốn xin Thầy một cái ý kiến,

ĐT: Ừ.

BĐ: Đối với cá nhân con.

ĐT: Ừ.

BĐ: Để làm như thế nào, để hành hồi như thế nào, cho nó cân với con đường tu học?

ĐT: Thì con đường mà tui đang giảng này,

BĐ: Dạ.

ĐT: Là cái nguyên ý đầu tiên phải thực hành cho đúng như vậy. Và cái Pháp ở đằng này là không phải là mỗi ngừơi riêng không hành được: trình độ nào cũng sẽ phát triển theo trình độ đó. Chớ không phải nói, “Người này cao đi hành này không được”; cũng được! Mà người thấp, hành cũng được. Nhưng mà trong đó nó thanh lọc tuỳ theo cái trình độ tu nhiều kiếp, hay là mới tu.

Cho nên trình độ nào cũng có thể xử dụng cái pháp này để thanh lọc, và nó tiến hoá. Luôn luôn thích hợp; chớ không phải chọn cho người này, bỏ cho người kia. Không! Cái này, cho nên phổ biến cho đại chúng: trình độ nào tu cũng được, nhưng mà nó sẽ tiến về trình độ căn bản của nó trước, rồi nó mới đi lên.

BĐ: Thưa Thầy, như vậy thì mỗi người thực hiện một cái phương cách riêng…(nói nghe không rõ) mặc dù nó có cái căn bản…(nghe không rõ)

ĐT: Nhưng mà thực hành cái pháp này rồi, nó phải trở về cái nguyên căn của Anh. Cũng như nguyên căn của Anh thuộc về Tiên giới thì Anh trở về Tiên giới, rồi Anh mới đi về Phật giới. À. Còn Anh về nguyên căn của Thần lực, nó phải đi về Thần lực, nó mới trở về với Tiên giới.

Mà dùng cái pháp này để khử trược lưu thanh thì Anh có một cái cơ hội tiến, thức, và nắm vững để mà đi. Cũng như Anh là chuyên môn về Comptable thì Anh phải trở về Comptable rồi Anh mới đi lên làm giám đốc; ví dụ vậy.

BĐ: Dạ thưa Thầy,

ĐT: Ừ.

BĐ: Ý con nói là: mình có quyền thích ứng, có nghĩa là mình thay đổi một chút về phương pháp sao để thực hành?

ĐT: Không thay đổi được! Bởi vì cái pháp này là cái phương pháp để khử trược lưu thanh. Còn về cái tâm linh của Anh đó, thì Anh sẽ nhận định trong phần sáng suốt của Anh mà để Anh tiến theo trình độ của A nh. Anh hiểu không? Anh nghe kịp cái này không?

BĐ: Nó chỉ, chỉ có một pháp thôi? Mình không thể biến chế với nó …(nói nghe không rõ)

ĐT: Biến chế không được. Anh biến chế là Anh bị sai, đi xuống rồi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Biến chế không được. Cái phương pháp này là chỉ thanh lọc; bởi vì Anh có cơ tạng như mọi người; Anh hiểu không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Không có biến chế cái gì hơn được hết; nhưng mà Anh chỉ thanh lọc, khử trược lưu thanh, là Anh trở về vị trí của Anh; rồi từ vị trí của Anh, đi nhanh lắm.

BĐ: Dạ.

ĐT: Tới lúc đó là nó tuỳ theo cái công chuyện của Anh mà làm việc.

BĐ: Dạ, xin cảm ơn Thầy.

ĐT: Dạ. Đó là theo nguyên ý của Anh rồi.

BĐ: Dạ kính thưa Thầy, chúng con nẫy giờ nghe Thầy bàn, cũng như Thầy dậy, cũng như là chị Tranh nói đó, thì trong trường hợp nào mà chúng con có thể cảm nhận được cái luồng điển của tụi con đi lên?

ĐT: Ừ.

BĐ: Có thể cảm nhận được không?

ĐT: Cảm nhận được chớ! Như chị ấy, là chị ấy cảm nhận là nó đi lên đó!

BĐ: Dạ, cái phần điển mà đi phát xuất đi lên như vậy,

ĐT: Đi phát xuất đi lên, chị ấy phát xuất đi lên, chị ấy cảm nhận được đó. Một thời gian mà nó hết giật rồi đó, chị ấy thấy chị ấy bước qua một từng nữa rồi; hết giật rồi! Không có hồi trở lộn lại là chị ấy biết chị ấy bước lên một từng nữa rồi; và cứ đó mà đi tới mãi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nó nhiều từng, chớ không phải một từng.

BĐ: Còn cái phần điển này mà xuất phát đi lên đó,

ĐT: Ờ,

BĐ: Có phải là phần hồn đi không, hay là chỉ là phần Điển đơn thuần thôi?

ĐT: Không; phần hồn đi đó; phần hồn đi! Nhưng mà nó chưa, chưa minh thì nó không thấy thôi; chớ nó đang đi.

Cho nên, người tu của Vô Vi một thời gian lâu thấy, “A, tôi đứng tuốt ở trên kia tôi dòm xuống; mà tui đã đi bao nhiêu năm rồi, tui mới tới đến đây!” Tới lúc đó người ta biết, “Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời.” Lúc đó Anh thấy đứng tuốt trên kia rồi; nhưng mà mình đã đi mỗi đêm, mỗi đêm, mỗi đêm mỗi đi, đi. Mà mình chỉ có lo đi thôi.

Và những cái duyên tiền kiếp của mình đã thanh lọc xong rồi, thì mình không cần thấy những cái đó nữa. Những người hiếu kỳ á, nó phải thấy; hiếu kỳ á, “Tôi xuất ra, tui đi nhà băng lấy tiền”; hay, “Tui xuất ra tui đi đâu, đi đâu”; nó cho đi thấy cảnh này, cảnh nọ; xẹt qua, rồi mất luôn. Là độ, cho tiến!

Còn cái này, mình cứ việc lo, cặm cụi, mình cứ lấy cái tâm quyết chí mình tu, đi tới đó là ngộ rồi. Cho nên, “Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời.” Thấy hết, mà đến tuốt xa, chớ không phải gần. Tới lúc mình thấy là thấy bản thể, thấy tất cả; thấy càn khôn vũ trụ; muốn đâu tới đó! Nó khác rồi.

Cho nên, nhiều người tu, đừng có chán! Coi thử có trì kỳ chí không? Nhiều người nói, “Ôi chu choa, tôi tu tới bây giờ tui không thấy!” Mà trong này nó tiến rõ ràng, mà không thấy! Hồi trước, nói chuyện thì gây; bây giờ nói đâu mở đó! Đó, nó đang tiến rồi! Rồi mình thấy mình chấp, mình thấy mình mê; mình thấy rõ cái tánh hư tật xấu của mình; mình thấy mình tiến rồi! Mà nhiều người còn nói, “Tui chưa, tui chưa thấy cảnh; tui không chịu!” Nhưng mà cái đó là cái cảnh mình đã thấy rồi, và mình đã tự sửa rồi. À, hồi trước cái nhà mình sắp cái bàn như vầy, mà bây giờ mình tu nhẹ rồi, ra, “Tui không chịu, tui đổi cái bàn như vầy; tui đã thay đổi rồi, đổi cái hướng cho nó thích hợp cái tình trạng của tôi.“ Còn, hồi nào tới giờ Anh đâu có làm décorateur, mà Anh làm được! Tới lúc mà nó trụ rồi, nó thấy cảnh khác rồi, không có giống như bây giờ. Cho nên, cái Vô Vi nó phát triển vô cùng; và có người từ hồi nào tới gìơ không biết thầy bói, không biết gì, nhưng mà sau này nói đâu, trúng đó hết. Có hết!

Cho nên, nó phát triển dữ lắm. Nó tuỳ theo cái trình độ, mà tuỳ theo cái tâm hướng của hành giả. Cho nên, ngày hôm nay tôi mới chỉ về cái Kinh A Di Đà để mọi người hướng đúng đích hơn, và đi về đảnh lễ Phật mau chóng hơn.

Chớ nhiều người hay hướng ngoại nhiều lắm: hướng về khối này, hướng về khối kia, hướng về khối nọ; và không có tự chủ. Thành ra cái Điển mình cứ thấy bữa nay gom được, mai mình phân phát hết; nó không còn! Mình gom, gom luôn, để đi lên! Một long, một dạ, để mình đi. Rồi mình sẽ cứu tất cả ở tương lai.

BĐ: Xin cảm ơn Thầy.

BĐ:Nam Mô A Di Đà Phật!

ĐT: Ừ,

BĐ: Cho con hỏi;

ĐT: Ừ,

BĐ: Con xin trở về cái vấn đề nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật,”

ĐT: Ừ,

BĐ: Là, như Thầy nói là Đức Phật Thích Ca có trước,

ĐT: Ừ,

BĐ: Ngài Di Đà;

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì như vậy thì ngài Thích Ca vẫn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà thành Phật;

ĐT: Ừ,

BĐ:Và điều thứ hai là, con thường nghe Thầy nói về vấn đề Thượng Đề.

ĐT: Ừ,

BĐ: Như vậy “Nam Mô A Di Đà Phật,” cái nguyên lý đó với Thượng Đế, là một, hay là hai? Xin Thầy cho rõ.

ĐT: Bởi vì ngôi Thượng Đế là bao trùm đời, đạo một khối. Còn Phật á, là tu về đạo không à. Phải hiểu chỗ này.

Cho nên, Thượng Đế vẫn là cha của ông Phật, chớ không phải con của ông Phât đâu. Cho nên, nhiều người tu ông Phật rồi cái quên ông Thượng Đế! Ông kia ổng lo cả hai khối, đời, đạo; ông Thượng Đế ổng làm việc nhiều hơn ông Phật; và ổng có trách nhiệm nhiều hơn ông Phật.

Còn ông Phật là, cũng như bây giờ mình đi học Tú Tài rồi mình đi vô Đại Học: mình phải thanh lọc, trở về với căn bản thanh tịnh.

Rồi lúc đó mà Thượng Đế cần dùng, thì mình cũng phải giúp, đi làm việc; nhưng mà mình có quyền sống riêng, không phải như công chức. Còn mấy ông Thần, ông Thánh là phải lệ thuộc tới Thượng Đế; và quyền của Thượng Đế sử dụng những vị đó. Còn Đức Phật thì Thượng Đế cũng có cho, và theo sự phát tâm của vị Phật nào thì Thượng Đế sẽ nhờ vị đó làm việc.

Thành ra, hai khối cũng là một, chớ không có xa cách. Ở trong cái cộng đồng của cả Càn Khôn Vũ Trụ, ông Thượng Đế cưng nhứt là ông Phật: con cưng của Thượng Đế.

BĐ: Kính thưa Thầy, cái điểm này thì con hiểu như thế này,

ĐT: Ừ;

BĐ: Con xin trình lại Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ: Theo, căn cứ theo “Thượng Đế giảng Chơn Lý” đó,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì đức Phật A Di Đà là thể trí,

ĐT: Ừ,

BĐ: Của càn khôn vũ trụ;

ĐT: Ừ.

BĐ: Tức nhiên là cái Phật A Di Đà này là có từ thuở đời đời,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì, theo con nghĩ,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì trong chúng con cũng có Phật A Di Đà trong đó,

ĐT: Có hết;

BĐ: Thì bàng bạc từ thời này qua thời kia,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì cái Phật Di Đà đã có vốn sẵn từ cái khối vô cực vô biên rồi,

ĐT: Ừ,

BĐ: Nhưng cũng bàng bạc với các Tiểu Hồn,

ĐT: Ừ,

BĐ: Để tiến hoá;

ĐT: Ừ,

BĐ: Còn Đức Thích Ca chỉ là một cái phần tiến hoá, trụ vào một cái cụ thể đặc thù nào đó,

ĐT: Ừ,

BĐ: Trong một giai đoạn nào đó,

ĐT: Ừ,

BĐ: Dạ; thành ra đức Phật Thích Ca cũng có thể niệm,

ĐT: Ừ,

BĐ: Danh A Di Đà Phật, mà thành Phật được.

ĐT: Ừ.

BĐ: Mà Đức Phật Thích Ca cũng có thể dậy các Phật A Di Đà khác,

ĐT: Ừ.

BĐ: Để mà thành Phật tiếp theo;

ĐT: Ừ,

BĐ: Bởi vì cái điển của đức Phật A Di Đà nó bàng bạc,

ĐT: Ừ,

BĐ: Nó đời đời,

ĐT: Ừ,

BĐ: Mà không có trụ vào một nơi nào cụ thể.

ĐT: Ừ. Thì hồi ông Đức Thích Ca mà tu giữa rừng đó, là ổng thực hiện cái gì? Ổng thực hiện trong cái nguyên ý “Nam Mô A Di Đà Phật”;chớ thực hiện cái gì? Ổng đâu có ăn uống gì; thấy không? Cho nên, từ đó mà mới khám phá ra Lục Thông; hiểu không? Cũng nằm trong cái nguyên ý của, “Nam Mô A Di Đà Phật” thôi; tất cả nằm ở trong đó hết đó rồi!

Cho nên Đức Thích Ca, trong cái lúc truyền pháp là đức Thích Ca là Phật Tổ, chứng cho đức Thích Ca làm việc đó. Mỗi người có nhiệm vụ; mỗi người có nhiệm vụ hết à. Không phải là đức Thích Ca là lớn hơn hết; đối với giới Phật không phải lớn đâu. Ở thế gian họ hay nói,“Ông này lớn!” Ông nào cũng vậy thôi; nhưng mà mỗi ông một nhiệm vụ, mỗi ông một nhiệm vụ. Ông Di Đà ổng làm việc có hiệu lực,hành sự mà; cả Càn Khôn Vũ Trụ, chớ đâu phải ít đâu; hành sự; lớn lắm.

BĐ: Cảm ơn Thầy.

ĐT: Ừ,

BĐ: Con xin đảnh lễ Thầy.

ĐT: Ừ,

BĐ: Kính thưa Thầy, những câu hỏi con đặt ra là một phần là của một số bạn đạo của con đã đặt mà con không thể trả lời được,

ĐT: Ừ,

BĐ: Như Thầy đã nói, khi mà những luồng điển đã thông và đã chứng đắc, đã đạt Lục Thông, thì có thể kiểm soát được Ngũ Hành;

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì kính thưa Thầy, anh em tự hỏi, nếu mà đã kiểm soát được Ngũ Hành và biết là cái thân là giả tạm rồi, thì qua thân xác của Thầy vẫn còn dùng thuốc,

ĐT: Ừ,

BĐ: Mà sao không quân bình ở trong người, thì tất cả mọi bịnh tật,

ĐT: Ừ,

BĐ: Sẽ không còn,

ĐT: Ừ,

BĐ: Để mà khỏi phải dùng thuốc? Đó là câu hỏi thứ nhứt.

ĐT: Ừ, cho nên tôi còn phải làm việc rất nhiều, và tui sống ở trong cảnh đời, đạo; và trong Y Lý đó, tui nghiên cứu cho mọi người kế tiếp. Chớ kỳ thật, nói thiệt, dùng thuốc, không dùng thuốc của tôi, tôi chỉ ăn có một chút một ngày thôi, tôi không cần ăn cơm ba buổi; nhưng mà tui phải làm việc nhiều: đời, đạo, hai cái một lượt; thì Bề Trên cho tui. Chớ trước kia tui ở Việt Nam tui đâu có ăn ban đêm! Nếu tôi mà là người dùng thuốc mỗi ngày thì trong trại cải tạo tui đã chết mất rồi!

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh thấy không? Nó đâu có cho tui viên thuốc nào tui dùng đâu?

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Nhưng mà tui chỉ ăn cơm với nước sôi thôi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nhưng bây giờ tui ăn cơm với nước sôi, mấy người chịu không? Chắc là không chịu! Thì tui phải, từ cái đời tui phải cứu người ta ra.

BĐ: Dạ.

ĐT: Rồi một số anh em cũng bắt đầu, tu nhẹ rồi họ cũng ăn cơm với một chút nước sôi; bỏ hết.

BĐ: Dạ.

ĐT: Họ tự thanh lọc. Một kỳ của họ là một tháng hay hai tháng; mà họ không cho người ta biết họ đạt được.

BĐ: Dạ, con cảm ơn Thầy câu hỏi thứ nhứt. Và đến kế tiếp là câu hỏi thứ hai.

ĐT: Ừ,

BĐ: Kính thưa Thầy, những vị mà được chúng sinh ngưỡng mộ và tôn thờ, chẳng hạn như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật A Di Đà, Đức Chúa GiêSu,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì qua những sự giáng thế của các vị đó đều có một cái nét đặc thù,

ĐT: Ừ,

BĐ: Giả dụ như đức Phật Thích Ca xuống trần qua ngôi Hoàng Tử,

ĐT: Ừ,

BĐ: Mà theo những kinh sách của nhà Phật để lại là khi đức Phật xuống thế,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì tay chỉ lên trời và tay chỉ xuống đất,

ĐT: Ừ,

BĐ: Và chỉ, “Thiên thượng Thiên hạ di ngã độc tôn!”

ĐT: Ừ,

BĐ: Và Ngài bước đi trên những bước đoá hoa nở như là những cánh sen; thì,

ĐT: Ừ,

BĐ: Hoặc là đức chúa GiêSu xuống trần qua những báo hiệu của những thánh linh,

ĐT: Ừ,

BĐ: Và những tiếng ca ở trên trời vang rền,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì, kính thưa Thầy, đó có phải chăng là những huyền thoại, hay đó là một sự thực?

ĐT: Cái đó là hồi xưa cõi Trời còn thanh sạch, dễ thể hiện lắm; cái chuyện đó dễ thể hiện. Bây giờ cái bầu trời nó đã ô trược. Cho nên, các bạn thấy: những người tu về Vô Vi mà lên thanh lọc đã được thanh nhẹ rồi, thì các bạn thấy cái cảnh đó đâu có khó khăn! Cảnh đó là nó thể hiện, các bạn muốn là các bạn thấy rồi, đọc lại như không; bởi vì mình đã thoát cái trần tục lôi cuốn; nó thanh nhẹ. Nhưng mà bây giờ bầu trời nó ô nhiễm, những vị đó xuống cũng làm phép, mà làm phép cho những người, như tui thấy những vị đó làm phép ở Việt Nam rất nhiều, nhưng mà đâu có ai viết thơ ra nói đâu! Chư Tiên xuống trong lòng đất Viêt Nam làm biết bao nhiêu chuyện, mà tui đâu có nhận được cái thơ nào nói, “À, ông Tiên này xuống”? Tui, để tui nghe thử coi có ai nói đâu? Không có! Vì mắt phàm không có thấy! Thiếu thanh sạch, không có thấy; rồi chỉ chờ mong những cái quyền phép, những cái này kia, kia nọ.

Nhưng mà cái đó là cái lỗ thời rồi! Mấy ngàn năm rồi, chờ đợi Jésus Christ trở lại, chờ đợi Thích Ca trở lại! Mà Thích Ca trong long chúng sanh, mà không ai thấy; Jésus Christ ở trong long tất cả chúng sanh, mà không ai thấy! Đức Di Đà ở trong lòng tất cả chúng sanh, mà không ai thực hành!

Cho nên, chúng ta là người thực hành, và chúng ta sẽ khám phá sự huyền diệu đó!

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, cái đời mới, kỳ Hạ Ngươn này mới có cái Pháp này! Để cho các bạn có cơ hội khám phá ra!

BĐ: Dạ.

ĐT: Thực hành để mình khám phá! Chớ không có phải khi thấy mà đi khoe khoang! Không có ai tin Anh đâu! Nói, “Tui thấy ông Jésus Christ xuống rồi”; đâu có ai tin! “Thằng này khùng!” Nhưng mà Anh thấy! Rồi người khác hành, mới thấy; người nọ hành, thấy Thượng Đế; người này hành, thấy chư Tiên! Té ra Cộng Đồng Long Hoa có! Thấy chưa? Mà không hành thì không có!

Cho nên, không nên dùng mắt phàm mà chờ đợi, vì mắt chúng ta sẽ đui, sẽ già, sẽ yếu; và tự gạt lấy mình, mà thôi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, bây giờ có Pháp Lý để hỗ trợ các bạn đào sâu tâm thức các bạn, để nhận rõ bi, trí, dũng ở đâu; tại sao có? Rồi, cái quyền năng tự chủ của chúng sanh ở chỗ nào; chớ cứ giành nhau làm người, để làm gì? Cầu nguyện, lúc ta làm con thú, cầu nguyện, “Chết đi muôn kiếp, hy sinh 5 kiếp được làm người, tui cũng chịu!” Làm người rồi làm cái gì đây? Thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, chúng ta tu cái này chúng ta sẽ khám phá tất cả toàn diện, và sẽ thức tâm, thấy chư Phật là bình đẳng và không có đề cao, không có đề cao, và không có đi tới!

BĐ: Dạ.

ĐT: Dẹp cái sự đề cao và đi tới; và dẹp cái sự, kêu bằng, mê muội huyền hoặc và đặt lý này lý nọ, rốt cuộc không có rớ tới đâu hết thẩy.

Chớ cái luật hoá hoá, sanh sanh trật tự không ngừng nghỉ, chúng ta đã thấy rồi: con thú thành con người rồi; con người thành Tiên, Phật, có rồi. Bây giờ chúng ta ở đây làm cái gì đây? Chờ mấy ổng tới dẫn chúng ta hả? Không! Chúng ta phải hành để tiến tới; thì nó đúng hơn. Thấy con đường nào đúng thì chúng ta chọn.

Còn nói là, “Tui ngồi đây tui chờ ông Jésus Christ xuống”; hay “Tui chờ ông Phật xuống”; hay, “Tui chờ phép lạ”; thì chắc chắn là các bạn không chờ được!

BĐ: Dạ.

ĐT: Tui giám ký contrat! Không có cái cơ hội đó.

BĐ: Dạ. Con thành thật cảm ơn Thầy câu hỏi thứ hai;

ĐT: Ừ,

BĐ: Và kế tiếp là câu hỏi thứ ba.

ĐT: Ừ,

BĐ: Chúng con đã biết rõ, muốn trở về nguồn cội thì tự mình phải bước đi.

ĐT: Ừ,

BĐ: Vì đó là luật công bình

ĐT: Ừ,

BĐ: Tiến hoá.

ĐT: Ừ,

BĐ: Nếu bất cứ một sự hộ độ nào, chỉ trong giai đoạn nhứt thời để khuyến khích chúng sinh hé tâm để mở đường về với đạo, thì được;

ĐT: Ừ,

BĐ: Chớ còn nếu ông Phật, hoặc Chúa kéo á, thì mất sự công bằng,

ĐT: Chớ sao!

BĐ: Con biết như vậy. Nhưng con cũng hỏi thêm một phần là, kính thưa Thầy, Thầy xuống thế qua sự chuyển xác như có một lúc Thầy đã …

ĐT: Ừ,

BĐ: Nói chuyện cùng các bạn đạo ở Nam Úc,

ĐT: Ừ,

BĐ: Thì con đã thấy rằng Thầy xuống, Thầy thành đạo; nhưng mà cái sự xuống thế của Thầy cũng khác người thường,

ĐT: Ừ,

BĐ:Thì có phải chăng trong cái lúc cấp thời này, những vị xuống trần mà để cứu độ chúng sinh, là đã có ước nguyện từ trước? Và những cái, Thầy xuống Thầy hướng dẫn qua cái Pháp Lý Vô Vi; chớ còn là Thầy, có nghĩa là, nguyện độ chúng sinh là từ các vị Tiên từ trên đó xuống, thành ra Thầy, hay là những chư Phật kia, là đã đắc ở cõi Thiên Đình? Đó, do đó thì con rút ngắn câu hỏi lại là: Thầy đã đắc, và vì thương chúng sinh mà xuống độ, thành ra do đó cái sự tập của Thầy, 6 tháng đã xuất hồn, khác chúng con? Chúng con thưa Thầy rằng, Thầy đạt được, chúng con sẽ đạt được; đây không phải là một lời khoan ngôn.

ĐT: Ừ,

BĐ: Nhưng mà đó là con nguyện để cố gắng đi.

ĐT: Ừ,

BĐ: Đi theo Thầy. Thưa Thầy, anh em chúng con ở bên Nam Úc nghĩ rằng Thầy là Đại La Kim Tiên. Con biết rằng cái lối suy luận này không nên, nhưng mà vì qua những ấn chứng thấy Thầy luôn luôn mặc đồ trắng, và hướng độ anh em bên đó, thì, kính thưa Thầy, cái điều này Thầy có thể trả lời; chúng con không vọng ngoại, chúng con không ỷ lại.

ĐT: Ừ,

BĐ: Nhưng mà cái đó có phải sự thật, hay không?

ĐT: Luôn luôn các bạn tu về Vô Vi mà các bạn có nhiệm vụ, thì phải bận đồ trắng hết, chớ không có bận đồ mầu sắc. Ai cũng vây; Ông Tư cũng bận đồ trắng. Ở thế gian đặt tới cái chữ “Tiên” là nó quan trọng lắm? Tiên là trầy da tróc vẩy mới được lên tới chỗ đó! (cười) Có cái gì quan trọng đâu! Tu đi, rồi nó đến; Anh thấy không? (cười)

Anh thấy tui xuống thế khác hơn Anh; nhưng mà tui thấy cũng vậy à! Bị nhiều kiếp rồi; chúng ta đã tu nhiều kiếp, nhiều kiếp, nhiều kiếp; cứ luôn hồi, luân hồi, luân hồi! Mà cái đại nguyện của chúng ta chưa hoàn tất, chúng ta phải làm người! Cái đại nguyện của tôi cũng chưa hoàn tất, cho nên ngày nay tôi mới dẫn độ chúng sanh.

Cho nên, hôm mấy tháng trước, tui thấy tui lên thấy 5000 lẻ bao nhiêu năm đó; tui nói, “Té ra mình 5000 lẻ mấy năm! Té ra mình tu ít quá!” Ở thế gian người ta nghe 5000 mấy năm là nhiều lắm; tui thấy ít quá, bởi vì, “Bẩy ức niên mới thành cái thể xác này, mà tu có 5004năm, còn bao nhiêu năm đi chơi không à? Còn yếu! Chưa được! Phải tu nữa!” Chớ mà người ta thấy 5000 lẻ mấy năm, người ta mừng lắm! Ông Thích Ca có mấy ngàn năm, mà sao tu? Té ra mấy người mấy ngàn năm tu mới được làm con người!

Cho nên, đừng bị người ta lấy vải thưa che mắt thánh mà làm mờ ảo tâm thức của mình! Bẩy ức niên các bạn mới có cái thể xác này, mới được làm con người; mà các bạn tu mấy ngàn năm? Ít quá; không nghĩa lý gì!

Phải hiểu chỗ này, thì chúng ta thấy rằng không chán cái việc tu; mà không khen cái nào người ta thành. Không cần phải khen. Đồng đẳng với nhau hết: đều luân hồi để tu, để tiến! Còn thiếu sót, phải tiếp tục học; không có ai từ chối việc học của chính mình! Anh thấy ở thế gian, thấy rõ ràng không? Duyên nghiệp nó tới Anh, là Anh cứ đi theo bà đó Anh cưới mà Anh khổ. Đó! Chưa hết; phải không?

BĐ: Dạ; (cười) cảm ơn Thầy!

ĐT: Nó có bằng chứng, chớ không có láo được! Nói, “Tại sao, ông này ổng đẹp trai, mà cứ theo bà đó hoài; nhứt định làm rể nhà đó? Kỳ không?” Bởi chưa hoàn tất; phải học.

BĐ: Dạ, con cảm ơn Thầy những câu hỏi đã giải đáp.

ĐT: Ừ. Cái đạo cũng vậy, mà cái đời cũng một thứ thôi.

BĐ: Con xin đảnh lễ Thầy. Con xin phép hỏi Thầy 3 câu hỏi.

ĐT: Ừ,

BĐ: Câu thứ nhứt là, con thường nghĩ rằng khi công phu, nếu mình Soi Hồn lâu thì cái luồng điển nó chấn động trên đỉnh đầu,

ĐT: Ừ,

BĐ: Và giữa hai chân mày.

ĐT: Ừ,

BĐ: Và nếu mình Soi Hồn lâu thì nó sẽ chấn động lâu, và nó phát nóng, nó có thể phát sáng ở chỗ đó,

ĐT: Ừ,

BĐ: Cho nên con thường Soi Hồn rất lâu,

ĐT: Ừ,

BĐ: Trên dưới một tiếng đồng hồ. Do đó mà trong sách, cũng như là nhiều lần Thầy giảng á, thì Thầy nói rằng chỉ 15 phút,

ĐT: Ừ,

BĐ: Mười phút là đủ. Thành ra con cũng không có, con hoang mang,

ĐT: Tôi nói từ 5 tới 15 phút,

BĐ: Dạ.

ĐT: Bởi vì Anh còn phải để dành thời giờ Anh làm những cái việc khác nữa: vì khi mà Anh dọn ở trên này rồi, 15 phút ở trên này bằng ở dưới này mấy tiếng: cao chừng nào, ngắn chừng nào, dài chừng nấy ở dưới. Anh hiểu chỗ đó không? Khi Anh làm 15 phút, ở dưới này nó làm cả một tiếng đồng hồ nó mới đáp bù bên trên.

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên mình làm Pháp Luân Thường Chuyển đã chiếm bao nhiêu phút rồi; rồi còn cái Thiền Định phải gấp hai lần cái đó; bởi vì ở dưới, Lục Căn Lục Trần nó chậm hơn, mà Chủ Nhơn Ông thì thức hồn mau hơn; cho nên phải để dìu tiến Lục Căn Lục Trần; lúc đó cái thức hoà đồng nó mới mở, ánh sáng nó mới đầy đủ.

Cho nên, nhiều người cứ làm 1 tiếng đồng hồ, 2 tiếng đồng hồ Soi Hồn, rồi cái bỏ! Rồi, “Tôi mệt rồi!” Ở dưới này không làm! Rồi té ra, “Ông đi có mình Ông à, còn tụi tui, làm sao đây?” (b/đ cười) Cho nên nó mất trật tự. Cho nên, tui dặn 5 tới 15 phút, rồi mới cho cái tụi kia nó đi lên nó đồng học với mình; rồi lúc mình xuất hồn ra đi, nó mới giữ nhà cho mình. Chớ nhiều người làm thét rồi bị nhập là vậy đó; mà cãi lời tui thôi! Bị nhập!

BĐ: Dạ.

ĐT: Cứ làm 5 tới 15 phút thôi; maximum là 15 phút. Rồi Anh làm Pháp Luân, rồi Anh Thiền Định, ngồi Thiền Định lâu 1 tiếng đồng hồ, để dìu tiến tất cả; sau khi Anh đi, có người thay thế Anh mới được chớ! Cứ nói “Tui đi, tui đi mất cha nó rồi; bỏ hết!” (b/đ cười) Đâu có được! Caí đó trật á!

BĐ: Dạ.

ĐT: Cho nên, ở Hồng Kông cũng có một người tu nó cũng mất luôn đó! Có cái bà đó tu sao mà, cái ông đó tu làm sao mà đi luôn; rồi bây giờ nó mạ vàng! Ở Vạn Phật Tự Hồng Kông đó; bữa nào rảnh, qua bên đó coi! Ở Việt Nam mình có anh Vân cũng vậy; cũng tu về Pháp Lý, cũng Soi Hồn quá, rồi ảnh đi luôn! Cũng ngồi, bỏ xuống rồi ngồi đó ảnh đi luôn á, không có về nữa! (cười). Ảnh cứ ngồi, chôn ngồi luôn! (cười). Anh đó ảnh tu về Pháp Lý, ảnh tu ghê lắm mà! (b/đ cười)

Ừ, Anh làm 5 tới 15 phút; rồi phải dậy Lục Căn Lục Trần; bởi vì toàn thân của Anh, chớ không phải một chỗ thôi; phải không? Đó. Cho nên Anh phải làm lại, đúng. Cái gì tui làm là tui đã kinh nghiệm rồi, và Ông Tư đã kinh nghiệm; Ông Tư còn kêu có 5 phút thôi, mà người ta làm 4 tiếng cũng có nữa! (cười). Làm chi vậy? Rồi đổ thừa Pháp Lý! Chớ giấy trắng mực đen mà! Anh đã hiểu chỗ này không?

BĐ: Dạ, con hiểu rồi Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ: Dạ thưa Thầy, câu hỏi chót là: con thiền thì con hiểu rằng là, “Không, không á,” có nghĩa là hoà; con hiểu mang máng vậy thôi; không biết có đúng vậy không?

ĐT: Đúng.

BĐ: Và, “Có, có” thì mình có thể cắt nghĩa là sao?

ĐT: Hử? “Có, có” là động. (b/đ cười) Có, có phải có tranh giành chớ;

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh, lúc nào Anh cũng giữ cái “Không”; Anh thấy ông Trời đang hoà với chúng ta không? Tất cả khối nam, khối nữ, mà Ổng cứ xịt xịt có một cái hơi thôi; Ổng cứ bơm có bây nhiêu cho tụi nó hít thở, để nó thủng thẳng nó cố gắng nó hiểu nó thôi. Anh thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Ổng cứ làm việc vậy thôi hà! Ông cho tất cả. Anh thấy không? Ờ. Cho nên mình phải lấy Không mình mới hoà đồng được; cái Không nó mới đi vô các nơi. Cái không khí mà ông Trời ban mình đó, nó đi từ ngón chân cái lên tới trên óc mình nữa. Mà Ổng kiểm soát hết! Mà khi Anh giữ được cái Không, là Anh thấy hết tánh hư tật xấu của mọi người! Anh chỉ việc giúp họ trở về Không thôi. Khi Anh đạt Không,Anh mới giúp họ trở về Không. Chớ không phải Anh Không rồi Anh chê cười họ! Cái đó không được! Kỳ thị là Anh trở nên Có rồi đó! Anh thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Á. Bị động đó! Cho nên, nhiều người gặp tui là nó vui; trong tâm tư nó nhiều chuyện lắm, mà nó tới là sau này nó hết trọi; bởi vì tôi ôm cái Không, nó theo cái Không đó, nó bỏ cái “Có” của nó rồi, nó còn cái gì đâu? (cười) Rồi cho hai Không, rồi tiêu luôn! (cười)

ĐT: Ờ?

BĐ: Thưa Thầy, cho phép con được hỏi 3 câu.

ĐT:

BĐ: Câu thứ nhất là: xin hỏi và lập lại cái câu của anh bạn vừa rồi,

ĐT: Dạ.

BĐ: Là Thầy nói là, “Không, Không”

ĐT: Ừ,

BĐ: “Không, không” tức là động; à, “Không không” tức là hoà.

ĐT: Ừ, “Có” là động.

BĐ: “Có” là động. Thưa Thầy, thì chữ “Có” đó,

ĐT: Ừ,

BĐ: “Trong Không mà Có”

ĐT: Ừ,

BĐ: Vậy thì chữ “Có”, mà Có là có hào quang,

ĐT: Ừ,

BĐ: Như vậy thì chữ “Có” mà có hào quang, tại sao lại động?

ĐT: Cho nên, cái “Có” mà nói hồi nẫy, là Có ở thế gian.

BĐ: Dạ.

ĐT: Còn Anh ở trong cái “Không mà Có” là Anh đang đi;

BĐ: Dạ.

ĐT: Không có động;

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh đang đi chớ!

BĐ: Dạ.

ĐT: Đang đi học đạo á; “Trong Không mà Có” là đang đi học đạo.

BĐ: Dạ.

ĐT: Nhưng mà Anh phải đi tới cực Không,

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh mới có cơ hội viếng Niết Bàn;

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh hiểu chỗ đó không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Chớ còn lúc đó nó cũng còn động: đang đi là động đó!

BĐ: Dạ.

ĐT: Trong cái “Có” đó là đang đi.

BĐ: Dạ.

ĐT: Đang học đạo.

BĐ: Dạ.

ĐT: À. Cái đó là cũng là động; động ở trên Thiên Giới. Mà khi đã đại định rồi á, mới nhập Niết Bàn được.

BĐ: Dạ.

ĐT: Thì mới không động. Anh thấy không?

BĐ: Dạ.

ĐT: Chớ còn Anh không có động, không bao giờ Anh khao khát cái không động!

BĐ: Dạ.

ĐT: Anh phải động trước. Bây giờ Anh Soi Hồn, Anh Pháp Luân, Anh Thiền Định; đó là Anh đang động đó: đang lọc, đang nhồi; đang lọc, đang nhồi, đang tiến; đang lọc, đang nhồi, đang tiến; đang, đang, đang giữ cái thanh, đang bỏ cái trược; Anh mới đi cao được chớ!

BĐ: Dạ.

ĐT: Thì cái hoả tiễn lên cung trăng, Anh thấy không? Nó bỏ một lớp này, cái nó tung, nổ cái “Đùng!” Lớp khác nó mới đi lên trên kia được.

[kết thúc ID#19860101Q5]

[bắt đầu ID#19860101Q7]

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Nhóm Bạn Đạo Thảo Luận Cách Hành Pháp - Cuốn 3A –

BĐ1: Thảo luận cái bài giảng của Thầy hồi sáng về Kinh A Di Đà, thì cái phần thảo luận này chúng ta chia làm 4 toán. Mỗi một toán gồm khoảng chừng 10 anh chị, không phân biệt nam, nữ vô chung 1 toán. Thì cái phần thảo luận này đó, chúng ta nhớ lại những gì Thầy giảng, rồi chúng ta ghi, nói lại, tóm lược những ý của Thầy giảng, rồi sau đó, nếu các anh em còn thiếu những điều gì, thì chúng ta bổ túc cho đầy đủ. Rồi tiếp theo thì nếu còn cái điều gì thắc mắc, hay cái gì chưa hiểu, thì trong toán Anh Chị cứ nêu lên câu hỏi; rồi trong toán của mình sẽ có một thư ký ghi nhận hết các câu hỏi đó, thì mình lần lượt mình giải đáp cho nhau. Nhưng mà cuối cùng thì đúc kết các câu hỏi đó để phần tối đó, rồi chúng ta sẽ còn có dịp gặp lại Thầy lần nữa, và Thầy sẽ đúc kết và giải đáp luôn.

Thì như vậy, thì chúng ta sẽ bắt đầu làm việc, từ 2 giờ đến 3 giờ rưỡi là thảo luận riêng từng toán, chúng ta nghỉ nửa tiếng, rồi trở lại từ 4 đến 5 giờ. Chúng ta sẽ tập hợp chung, rồi gom hết các câu hỏi của từng toán một nêu lên. Nếu có anh em nào có ý kiến gì hay thì nêu lên, hoặc là có cái phân giải thế nào đó, để mà cũng như mình nhắc nhở lại, để chúng ta lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại nhiều lần để chúng ta thâm nhập vào tâm, và sau đó được Thầy dạy thêm vào buổi tối, thì cái buổi hợp toán xin bắt đầu.

BĐ2: Đây là toán A, là vì lúc bắt đầu vô thì cũng có các toán khác; nhưng mà sau lúc chị Tranh đi đó, thì toán của chúng tôi không có thể có cái volunteer tốt như 2 toán kia. Do đó chúng tôi dùng cái chủ tâm là thanh tịnh, thành ra những câu hỏi cũng không có nhiều; thì những câu hỏi này, tại vì anh em chúng tôi không giải đáp được mà thành ra nêu ra, và có những câu thì tôi nghĩ rằng trong quá khứ đã biết, nhưng vì lỡ ăn cháo lú nên phải nhờ đến Anh Chị. Xin thành thật cảm ơn!

Câu thứ nhất: Làm thế nào để rõ luồng điển âm và dương; luồng nào là luồng âm, và luồng nào là luồng dương?

BĐ3: Để xin trả lời câu hỏi của Anh Sanh là: Luồng điển nào trong cơ thể con người là Âm, và luồng điển nào là Dương. Thì tôi nhớ lại có lần Thầy đã nói: Bên tả là dương, bên hữu là âm. Thì cái luồng dây thần kinh bên trái của chúng ta là luồng điển Dương, còn bên tay phải là luồng điển Âm. Và một cái điểm cụ thể nữa mà Thầy có nói là 2 con mắt chúng ta: mắt bên trái là Mặt Trời tượng trưng cho Dương, còn bên phải là Mặt Trăng tượng trưng cho Âm. Xin hết!

BĐ2: Thành thật cảm ơn Anh! nhưng mà có phải chăng rằng cái luồng điển Âm Dương là luồng Đốc mạch là luồng Dương, và luồng Nhâm mạch là luồng Âm chăng? Xin cám ơn anh câu trả lời, nhưng mà con người ta mục đích mà gọi là xuất được hồn đó là phải Nhâm Đốc mạch tương thông. Thì Nhâm mạch và Đốc mạch đó, thì cái Đốc mạch nó là mạch Dương, nó nằm phía đàng sau lưng; và Nhâm mạch là mạch Âm, nó nằm đàng trước; thì có phải như vậy chăng, chúng tôi không rõ? Bạn nào có câu trả lời thì trả lời, thì trả lời; nếu không thì chúng ta thông qua, để chờ Thầy giải đáp câu này. Và như vậy thì câu thứ nhất sẽ chờ Thầy góp thêm ý kiến để làm sáng tỏ, mặc dù ý kiến của Anh, bạn đạo đã đóng góp một phần nào rất hữu ích.

Câu thứ 2: Nam và Nữ đó, cái đường Âm, Dương có khác nhau không? Nếu khác thì nó khác ra sao? Vậy cái Vía và cái Hồn; cái Vía của người đàn bà lại là Dương, là một cái Dương; mà cái hồn lại là Âm. Thì ngược lại người đàn ông. Do đó, câu hỏi này đặt ra là nam, nữ đường Âm Dương có khác nhau không?

BĐ4: Đường Âm Dương là gì?

BĐ2: Dạ, đường Âm Dương có nghĩa là luồng điển đó.

BĐ5: Thưa với Anh rằng: Nam và nữ, cái điển Âm và điển Dương khác nhau, là nó khác nhau ở cái chỗ là nam thì Dương ở ngoài mà Âm thì ở trong; mà nữ thì Dương ở trong, âm thì ở ngoài. Vì thế đó, cho nên nam nữ khi gặp nhau…(có bạn đạo có ý kiến, nhưng nghe không rõ) Vậy thì để Anh Hiếu nhắc lại cho rõ cái ý thức của tôi là tôi muốn nó khác là khác ở chỗ đó. Vậy thì Anh Hiếu nhắc lại nhé.

BĐ6: Chú nói là người đàn ông á, Dương là là bên trong, Âm là bên ngoài; và người đàn bà đó, Dương là bên ngoài mà Âm là bên trong?

BĐ5: Đi ngược chiều rồi.

BĐ2: Cám ơn câu giải đáp của Anh; nhưng mà tôi nhắc lại câu hỏi của tôi như thế này: không phải cái tính thể, người đàn bà cái tính âm nó nằm ở ngoài và tính dương nó nằm ở trong. Tôi khẳng định chuyện đó là vì bên Nam Úc có những người xuất vía, xác định là chị đó xuất vía, chị thấy rõ đứa nhỏ một cách rõ ràng và minh bạch, và những bạn đạo nam xuất vía, thấy được cô vía của mình, người yêu của mình. Thành ra do đó cái câu trả lời của Anh, tôi xin góp ý là không đúng với câu hỏi tôi được nêu ra.

Tôi hỏi câu hỏi nêu ra là: Nam, nữ, đường âm dương có khác nhau không? Ý nghĩa là đường trái, phải, hoặc là cái luồng điển mà gọi là…khi thông Nhâm Đốc thì nó không khác rồi. Chị Tranh cười! chắc Chị có câu trả lời? Xin Chị!

BĐ6: (không nghe rõ câu trả lời)

BĐ7 : Vậy thì cũng được.

BĐ2: Dạ, vậy câu hỏi thứ 2; không ai trả lời được nam nữ cái đường Âm Dương có khác nhau không. Thì câu hỏi chắc tiếp tục xin trình Thầy.

Và câu thứ 3: Anh bạn hỏi hóa kiếp thì sao? Thì nam nữ cái luồng điển nó biến đổi, thì nó biến đổi ra làm sao, nếu có?

BĐ8: Hóa cái gì?

BĐ2: Hóa kiếp á! Ví dụ như nợ nần, kiếp này làm đàn ông vì ăn hiếp vợ nhiều quá, thì kiếp sau bà vợ, bả biến thành đàn ông để bả trả thù. Do đó cái thể tính, cái thể vía đó, nó biến đổi; thì như vậy, hóa kiếp nó ra sao? Và Nam, Nữ, cái luồng điển có biến hay không? Đó là câu thứ 3 nó như vậy, tạm thông qua.

BĐ9: (nghe không rõ)

BĐ2: Dạ, thưa sao ạ?

BĐ5: Chưa trả lời. Chị nói: Chưa trả lời!

BĐ2: Là vì không ai trả lời đó Chị; rồi thông qua để Thầy sẽ trả lời, Chị; hay là nếu Chị có câu trả lời thì xin …

BĐ9: Tôi nghĩ rằng, biết đâu chừng kiếp vừa rồi Anh là kiếp đàn bà, kiếp này Anh phải trở lại kiếp đàn ông; là tại vì kiếp vừa rồi Anh không biết làm cái gì sai quấy đó, Anh trở lại kiếp này, Anh trả cái quả cho bà xã Anh.

BĐ2: Về cái luồng điển nó biến ra làm sao?

BĐ9: Nói luồng điển thì tôi không hiểu, nhưng tôi nghĩ rằng cái phần Hồn Anh vẫn còn nguyên vẹn như vậy; nghĩa là Anh vẫn nhập cái xác đó, nhưng cái Hồn Anh vẫn là cái Hồn cũ.

BĐ2: Dạ, thưa phải! nhưng Chị rõ rằng: Nam á! Cái Vía là nữ, tính âm. Mà nữ thì cái Vía có tính Dương. Cái Vía của Nam Nữ, cái âm nó biến thành dương và cái dương nó biến thành âm như thế nào?

BĐ6: Theo tôi nghĩ cái luồng âm dương không có biến, không có thay đổi. nhưng mà cái linh hồn của Anh đó, khi mà cái thai đủ được 6 tháng thì cái linh hồn Anh vào. Nếu Anh phải vào cái thai nữ, thì cái luồng điển đó vào cái thai đó là cái thai nữ; nếu Anh trở lại thành một kiếp người đàn ông đó, thì luồng điển vào một cái thai noãn đã tượng hình đàn ông, chớ cái luồng điển của Anh, cái Hồn của Anh không có biến hóa.

Còn hai cái luồng điển âm dương là ở trong cái linh hồn, cái linh hồn của Anh có luồng điển âm dương rồi thì nó không có biến hóa, luồng điển âm dương không có biến hóa. Khi nói…,khi đầu thai hay là khi mà hóa kiếp hay trở lại cái kiếp khác đó, thì đề cập tới cái Hồn, còn cái Vía có. Theo tôi nghĩ là khi cái xác của Anh, nó đã thành tựu; khi Anh đã chào đời rồi ra thành con người, lục phủ ngũ tạng thành lập hết thì mới có cái Vía.

BĐ2: Thì cái Vía nó mang tính chất ví dụ như tôi. Bây giờ là Anh Trần Sanh trần trược nè hén! Mang cái Vía Âm, thì cái Hồn là cái Hồn Dương, Chị có đồng ý không? Và ngược lại, giả dụ như…

BĐ6: Ngược lại thì đó chỉ là cái sự thay đổi, vì cái cơ thể của người đàn bà là đàn bà, cho nên gọi là Hồn và Vía là gì đó thôi. Chứ Hồn là điểm linh quang, còn cái Vía là cái hỗ trợ. Anh không phải nói Anh một Hồn một Vía, người ta nói tới ba Hồn chín Vía lận. Thì cái Hồn của Anh là từ cái thức, cái giác, tới cái linh giác. Thành ra, cái mà nói phân tích ra là để chỉ cho những tầng lớp tiến hóa của điểm linh quang của Anh, của linh hồn của Anh, còn cái Vía là cái hỗ trợ thôi; còn nói tới chuyện hóa kiếp là Anh chỉ nói tới Hồn, cái điểm linh quang xuống cái thai noãn đã được tạo bằng hai cái: Noãn và cái tinh trùng của cha và của mẹ.

Cái chuyện đó là cái chuyện khi mà Anh đạt huệ rồi Anh sẽ thấy; như Thầy nói đó, tới sáu tháng không có một cái thai bào nào mà sống trước sáu tháng mà sống cả. vì lúc đó chưa có linh hồn xuống.

BĐ2: Cám ơn Chị! Nhưng mà riêng cá nhân tôi, tôi vẫn chưa thỏa mãn câu giải đáp, tại vì thế này: Khi mà Hồn Vía hợp nhất đó, có nghĩa là Âm Dương hợp nhất đó, thì mới thành điểm linh quang. Thì cái điểm linh quang nó có tính chất Âm và tính chất Dương trong đó. Chị cắt nghĩa là Hồn nó chỉ huy tất cả mà nguyên cái phần Vía phụ đi, thì tôi thiết nghĩ phần này đối với tôi rằng chưa được thõa mãn; xin phép Anh Em và Chị bổ túc thêm.

BĐ1: Cái này thì tôi chịu thua, nhưng mà tôi cũng xin hỏi Anh Sanh thế này: Mình hiểu thế nào nếu có những phụ nữ mang rất nhiều nam tính, mà cũng có nhiều người đàn ông mang rất nhiều nữ tính. Như vậy thì cái Vía mình phải hiểu nó thay đổi như thế nào? Có thay đổi hay không? Và thay đổi thì thay đổi nhiều hay ít?

BĐ2: Sự thật thì câu đó là câu hỏi của tôi, tôi đặt ra là vì tôi chưa có thể trả lời; mà nay Anh này đặt thêm một câu nữa thì tôi bí luôn.( bạn đạo cùng cười); thành ra xin Anh Sương; đây là một câu hỏi của Anh được ghi thêm. Có các Bác, các Anh Chị nào có giải đáp câu hỏi trên?

BĐ6: Chờ Thầy xuống.

BĐ2: Dạ, cám ơn Chị.

BĐ10: Dạ, thì thường cũng như là có một kỳ đó hỏi Thầy đó; thì thầy có nói: “ Nhất Bổn Tán Vạn Thù, Vạn Thù Quy Nhất Bổn”; thành ra, tất cả chúng ta đều ra từ một mối mà ra hết, Và từ cái mối đó mà do cái ý chí của chúng ta, rồi kết hợp bao nhiêu cái nghiệp quả của chúng ta mà nó tạo ra cái hình hài này. Thành ra, nam hay nữ là do chúng ta; từ cái điểm đó mà nó kết hợp cho cái ý muốn và nghiệp quả của chúng ta mà ra. Rồi từ trong đó, nó biến thể mỗi người mỗi khác hết, chớ không có một cái quy luật gì rõ rệt cho mỗi người; thành ra cái điều luồng điển Âm và Dương nó biến thể làm sao, nếu mà mỗi người đó, thì cái luồng đó, nó biến đổi trong suốt cái quá trình, trong kiếp người này và nó tiếp nối từ muôn ngàn kiếp trước nữa. Cho nên, theo tôi nghĩ là nó không có một cái quy luật gì tổng quát cho chung, mà cho mỗi con người.

Nếu thí dụ đưa Anh Ha ra, theo dõi cái luồng điển của Ảnh. Thì từ một điểm linh quang của Thượng Đế đi xuống đó, rồi chúng ta phân tách, theo dõi từng bước, từng bước một, thì nó cả một cái chuỗi dài vô tận; thành ra theo ý tôi thì nó không có một điểm gì thống nhất rõ ràng cho tất cả mọi người, mà phân tách ra từng cá nhân một; cái luồng điển nó biến đổi tùy theo trình độ tu tiến, tùy theo sự tiến hóa của mỗi một con người. Tôi xin có ý kiến như vậy.

BĐ6: Cái đó phải chờ Thầy giải đáp.

BĐ2: Dạ, thưa Anh Đức, câu hỏi thì các Anh Chị Em bạn đạo trong nhóm tôi đặt ra; mà tôi cũng tạm góp ý với câu hỏi đó như thế này; khi mà gọi là hóa kiếp, hay có nghĩa rằng được đầu thai để mà luân hồi là do nghiệp lực, mà nghiệp lực là một quá trình tổng hợp trong quá khứ. Thì do những thanh hoặc trược, thì Âm nhiều hay Dương nhiều, và do đó nó biến hóa, đó là cái ý của tôi như vậy, nhưng mà bạn đạo thôi thì, hỏi Thầy; thành ra tôi cũng xin hỏi Thầy.

Và đây là câu hỏi thứ 4: Điển quang của người tu tập có khác điển quang của nhà đèn không? Mà khác nhau là ở điểm nào, nếu có? Tôi chưa được nghe, thành ra, nếu Thầy có nói rồi, xin Anh nhắc lại.

BĐ11: Theo tôi nhớ thì Thầy có nói là điển quang mà, thì điện, điển quang cũng như nhà đèn đó, cái điển quang của mình phát ra thì nó khác nhau. Không có giống nhau, Thầy có nói hồi sáng nay, khác rất nhiều, mà khác làm sao thì tôi xin không biết. Cái đó phải chứng nghiệm mới biết được, chứ còn nếu mà dùng lời để mà giải thích thì chắc là không thể giải thích được.

BĐ6: Bây giờ nếu mấy anh nói vật chất với tâm linh là 2 sự kiện hoàn toàn khác nhau, phải không? Thì điển nhà đèn là điển vật chất, còn điển của con người là điển linh quang.

BĐ11: Đồng ý nó khác nhau, nhưng trong ý nói là giải thích như thế nào đó, giải thích như thế nào? làm sao giải thích?

BĐ6: Giải thích khác nhau như thế nào?

BĐ11: Ờ!

BĐ6: Điển nhà đèn chỉ phát ra qua vật chất cụ thể; Anh phải có dòng điện Anh nối ra, Anh phải có máy phát điện, Anh phải có vật chất để nó biến ra dòng điện. Còn nếu điển của con người Anh không có bản thể này, cũng không làm sao Anh có thể phát ra điển linh quang của Anh được hết. Thành ra vật chất có phương tiện để biến cái dòng điện nó ra ánh sáng, cũng như cái cơ thể ta để biến cái điển linh quang của chúng ta mà chúng ta cảm nhận được thôi. Và cái điển linh quang đó, người khác có cùng một tần số sẽ cảm nhận được, còn nếu sai tần số là không cảm nhận được.

BĐ12: Vậy điện của Chị là điện xoay chiều hay điện một chiều?

BĐ6: Điện của tôi không có xoay chiều mà không một chiều, vì điện của tôi không phải điện vật chất.

BĐ12: Vậy làm sao có tần số?

BĐ6: Mà điện của tôi là điển linh quang, tần số của tôi chỉ tôi biết thôi. Chừng nào Anh cùng tần số với tôi, Anh sẽ biết tôi.

BĐ12: Nếu mà khi Chị nói về điện mà có tần số là điện xoay chiều; à! Trong vấn đề điển thì nhóm của chúng tôi có cái ý kiến như thế này, và chúng tôi cũng bị kẹt trong cái câu đó. Và cuối cùng tôi đọc tới nữa thì tạm thời chúng tôi phân biệt cái định nghĩa nó như thế này: nói về điển nhà đèn, thì đây là về phương diện vật chất và thường mình quan niệm đây là một định nghĩa thôi.

Thế nào gọi là điện? Thì trong vật chất có những cái điện âm, mình gọi là electron. Thì những electron tự do đó nó di chuyển ở trong vật chất; thì khi nó di chuyển như vậy, mình gọi nó là có dòng điện; đó chỉ là định nghĩa để cho mình diễn đạt cái tư tưởng của mình mà thôi. Còn về điển ở trong cái phần Pháp Lý Vô Vi này, thì chúng tôi đọc cái phần kinh A Di Đà. Còn tới thì có phần định nghĩa điển là sức nóng. Thì chúng ta chỉ tạm nhận đó là định nghĩa mà thôi, và từ đó chúng ta mới có thể suy diễn được.

BĐ6: Điển vật chất đó Anh là sức nóng của một máy phát điện có cường độ bao nhiêu; còn điển của tâm linh là sức nóng, đồng ý, mà là sức nóng của cái gì?

BĐ12: Cái đó bây giờ chị thắc mắc thì Chị hỏi ông Tư. Ông Tư Ổng định nghĩa như vậy thì tụi tôi nói lại như vậy.

BĐ6: Sức nóng của mỗi cơ thể, máy phát điện của Anh có một cái cường độ, mỗi máy phát điện đều có cái cường độ của nó, phải không?

BĐ12: Thì Chị nói tiếp đi.

BĐ6: Thì cơ thể của Anh trở lại cái tần số, sức nóng của cơ thể của Anh, dòng điển của Anh mạnh hay yếu tới mức độ nào, chỉ có Anh biết mà thôi.

BĐ12: Nếu mà Chị nói về sức nóng, thì tôi xin trả lời về phương diện điện học với Chị như thế này: khi nào cái dòng điện nó chạy, nó gặp sức cản, từ sức cản đó, nó mới tiêu thụ dòng điện và nó sinh ra cái sức nóng. Và tùy theo sức cản nó nhiều hay ít sẽ tạo ra cái sức nóng nhiều hay là ít.

BĐ6: Thì trong cơ thể điển tâm linh theo tôi cảm nhận cũng vậy thôi à.

BĐ12: Nhưng mà ở đây, trong cái phần điển tâm linh này, thì như hồi nãy nhóm của chúng tôi có bàn: Thấy nóng đó, nhưng mà rờ vô không thấy nóng.

BĐ6: Tại sao?

BĐ12: Thầy giảng như vậy.

BĐ6: Anh rờ được không? Điển tâm linh, Anh rờ có được không mà Anh nói rờ không thấy nóng?

BĐ12: Tôi nói là: rờ vô cái cơ thể của Chị.

BĐ6: Điều này tôi xác nhận rằng: Khi mà Anh vận chuyển cho dòng điển tâm linh chạy trong cơ thể Anh đó, rờ sẽ thấy nóng, tôi bảo đảm như vậy; mà bây giờ tôi thở một cái là Anh thấy nóng liền.

BĐ12: Nếu mà Chị nói như vậy thì nhóm của chúng tôi cũng có bàn qua vấn đề đó, là khi mà Chị thở, lúc Chị làm Pháp Luân Thường Chuyển là lúc Chị đương nén khí. Và bất cứ một cái gì mà khi Chị nén như vậy thì có cái sự ma sát, mà chính sự ma sát đó tạo ra cái nhiệt.

BĐ6: Thì như vậy, tại sao Anh nói sờ không thấy nóng.

BĐ12: Nhưng mà cái điển của con người ta, Chị thấy thật nóng nhưng mà sờ không thấy nóng là tại làm sao? Như hồi nãy Anh Tác trong nhóm chúng tôi cũng có nói: Chị rờ Chị thấy nóng như vậy; rồi cái người kia, Chị rờ Chị thấy nó nguội, nhưng mà, nếu mà Chị dùng cái nhiệt kế Chị đo đều 37 độ hết, thì Chị cảm thấy thế nào?

BĐ6: Trả lời câu hỏi là dùng nhiệt kế đo vẫn thấy 37 độ là vì Anh dùng nhiệt kế điển vật chất để Anh đo điển tâm linh của tôi là chuyện trật lất thì làm sao Anh đo được. Thì Anh không thể đo được, Anh không thể dùng cái phương tiện đó để đo được, cho nên không thể nói rằng nóng hay lạnh và đo được hay không được.

BĐ12: Bây giờ cái phần nóng hay lạnh đó, nếu mà Chị chỉ dùng xúc giác để Chị đo lường, thì xúc giác không thể cho Chị một sự chính xác. Chính vì vậy mà ăn thua cái cảm giác của Chị nhiều lắm; Chị cảm thấy nóng nhưng sự thật nó không nóng.

BĐ13: Đúng, đúng rồi.

BĐ12: Nếu Chị đồng ý thì chúng ta thông qua.

BĐ6: Bây giờ toán A rút ngắn thời gian đi, chớ toán A chiếm hết nữa giờ rồi đó.

BĐ2: Đại khái về điện không, thì nó như vậy đó.

Tới câu hỏi thứ 5: Vi trùng sốt rét có phải chăng đây là danh từ gọi chung các loại trược và loại bệnh, chớ không phải là gọi chỉ riêng vi trùng sốt rét không?

BĐ6: Theo tôi nghĩ cái đó, đúng đó. Ông Tư chỉ gọi một cái đại khái, chỉ điển hình vậy thôi, chớ không phải là chỉ riêng, nói riêng về bệnh sốt rét đâu.

BĐ2: Dạ, đó là câu hỏi chót, và cảm ơn! câu hỏi này thì trong nhóm tôi thõa mãn. Xin nhường lại cho toán B.

BĐ14: Toán B chỉ có một câu hỏi là thắc mắc về vấn đề: “Thập Tam Ma”; tại vì có bạn đạo nói: Thập Tam Ma có phải thất tình lục dục không?

BĐ2: Tôi xin góp ý về Thập Tam Ma, Thập Tam Ma nó gồm có: Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, không có Dục, bởi vì cái chữ Dục nó nằm trong chữ Tham rồi, đó là thất tình. Còn cái lục dục là nó gồm có: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thân, Thiệt, Ý. Cộng 2 cái là 6,7 bằng 13, số xui.

BĐ13: Có Anh thì nói là Lục Căn, Lục Trần.

BĐ2: Cái Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt của Anh nói là lục căn, chứ cái đó đâu phải 6 con ma. Mà tương ứng với Lục Căn đó là Lục Trần, thì mình tạm thời mình gọi đó là nghiệp lực; ý của tôi góp như vậy đó, bởi vì đối với tôi, Lục Căn - nó chính là con ma khi nó còn trần trược, và khi nó không còn trần trược, nó thành Lục Thông. Thì Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý đó là 6 con ma, và cái thất tình là Tham, Sân, Si, Hỷ , Nộ, Ái, Ố; Anh Em thì sao không biết, chớ tôi còn.

BĐ15: Dạ thưa, Hoàng Ân xin bổ túc là: Cái thất tình lục dục như Anh Sanh nói, thì tạm đúng, như là cái Lục Dục đó là Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố. Còn xác định là Lục Căn không cũng không đúng; mà Lục Trần không cũng không đúng. Đó là biểu tượng của Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Tức nhiên là ở trong đó tại sao lại có Hỷ? Thí dụ bây giờ: sắc là gì? Tượng trưng cho phái nữ là đẹp. Khi mà chúng ta nhìn cái đẹp thì ở nội tâm sanh ra một cái vui, tham muốn; cho nên chính vì đó, Ân thí dụ, chỉ một điển hình là đối trị lại là từ ở trong Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố và đối trị lại cái lục dục đó là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, ở biểu tượng nó như vậy; nó mới có liên hệ, nó liên hệ từ trong cái lục căn, trong cái tâm thức; nhưng nó phải có sự đối tượng, nó mới phát sinh được. Thí dụ: Bây giờ sắc là tiền, mà bây giờ muốn phát sinh ra cái lòng tham, thì đương nhiên phải thấy tiền nó mới phát sinh ra cái lòng tham. Thì sắc đó là cái đối tượng để cho mình thấy, và cái lòng tham đó nó mới bắt đầu nó phát khởi được.

Nếu mà nói tới Lục Căn Lục Trần, thì phải nói tới Lục Thức, như vậy là nó tới 18 xứ, tổng tất cả là 18 xứ; nhưng mà bây giờ chỉ nói thất tình lục dục, thì chính nó là Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố và Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Thì chính cái đó là cái tương đối để đối trị với nhau mà phát sinh ra cái sự phiền não; nói chung đó là Trược mà như chúng ta đã nói. Thì cái đó là tất cả những cái sự khổ của con người mà bây giờ chúng ta phải, cần phải giải nó ra.

Còn nếu mà nói đi sâu hơn là nói về Lục Căn thì đó là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý. Còn nếu mà nói về Lục Thức, thì đó là, mình có mắt là nói về cái thị giác, mà nói về tai thì phải có cái thính giác. Đương nhiên nó phải có sự đối trị tương đối với nhau: Nó có ý là khi Anh tiếp xúc với ngoại cảnh, từ cái căn mà Anh tiếp xúc với ngoại cảnh có, thì mới phát khởi cái ý. Nếu trường hợp, bây chẳng hạn như bây giờ, như Hoàng Ân gặp vợ Hoàng Ân, trước tiên khi gặp cái cô đó mà cảm thấy rằng, vừa ý, thích, thì tất nhiên cái ý nó nổi lên. Đây là “Tôi thích cái cô này.” Nếu trường hợp mình không gặp cái cô đó, đương nhiên cái ý sẽ không nổi lên. Cho nên, từ tất cả, từ cái ngoại cảnh cho đến Lục Căn phát sinh ra là cái Lục Thức.

Bây giờ thí dụ: Bây giờ cái lưỡi của Anh, Anh không nếm một mùi gì, đương nhiên Anh không có ý nói “Đây là ngọt,” hay là chua cay. Nhưng khi Anh ăn nhằm một trái ớt; trái ớt đó là sắc là cái trần, mà cái lưỡi đó là cái căn. Nhưng mà khi cái ý Anh nổi lên, đó là khi Anh đã nếm nó là chất nóng, chất cay, thì ý ở trong đầu bắt đầu nổi lên. Tất nhiên cái đó là phải đi cả tương đối nổi lên cùng một lúc, chớ không thể nào mà từng cái một chia rẽ ra được; nó có cùng một lúc rồi nó sẽ tan dần cùng một lúc khi Anh bắt đầu ý thức nó. Cái ý của Anh, nó là cái ý từ nơi cái sự duyên đối đãi, nó mới phát khởi; nhưng mà cái thức của Anh là cái thức bây giờ cũng như chúng ta. Tại sao chúng ta chịu tu? Là tại vì chúng ta thấy rằng: Từ cái thất tình lục dục đó là cái sự khổ, đó là thức; Anh trở về con đường tu đó là thức; nếu mà chúng ta không thức thì chúng ta sẽ bị đọa lạc theo cái thất tình lục dục.

Còn cái ý của tôi nói đây, đó là duyên. Duyên với nhau mới khởi được cái ý niệm, mà ý niệm đó, Anh mới trở thành có cái “Ta,” là tất nhiên là có “Tôi thích nó,” và “Người đó phải là của tôi.” Và từ đó người đó khi chấp nó vào cái tôi rồi, thì nó mới lọt vào thêm một cái thức nữa, đó cái gọi là tiềm thức, mà phật giáo gọi là A Lại Da Thức; thì cái tiềm thức đó là lúc nào Anh cũng muốn gìn giữ những cái gì mà Anh đã nắm nó được, rồi Anh không bao giờ buông ra.

Nhưng mà bây giờ cái thức của Anh là thế nào? Là cái giác, tất nhiên là Anh ý thức được cả những sự sống trong cuộc đời này, do những cái đó mà gây ra những sự khổ. Bây giờ chúng ta phải làm sao giải thoát sự khổ, đó là cái thức; cũng từ trong tất cả những cái duyên đối đãi đó mà Anh phải có cái thức; cho nên, Phật Giáo mới nói kết cuộc một câu là: Phiền não là bồ đề. Tham sân si là thượng thanh hòa do Anh Yêm nói, đó là một sự từ có cái tham sân si mới đi đến cái giới định huệ mà phát lên, mà đi đến cái giới Phật tánh là cái chỗ đó. Còn tất cả những từ “Lục Căn, Lục Trần và Lục Thức” chỉ là cái sự duyên đối đãi với nhau mà tạo thành cái có mà thôi. Nhưng khi chúng ta thức, tất cả trở về không hết, khi đó là Anh đã giải thoát. Xin hết!

BĐ1: Thất Tình, thì Tham Sân Si không nằm trong Thất Tình, mà Thất Tình gồm có: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc và Cụ, còn Tham Sân Si là thành một cái nhóm riêng rồi; thì thất tình nghĩa là Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc và Cụ.

BĐ15: Dạ, thưa Anh Phương nói cũng đúng, nhưng mà chung quy cũng chỉ có nằm trong Tham Sân và Si. Thí dụ bây giờ Anh Hỷ, Nộ, Ái, Ố; thì bắt đầu từ cái dục, cái đó là cái tham. Mà khi Anh đi ngược lại cái gì mà Anh không vừa ý, đó là cái sân. Nhưng mà từ có cái dục mà đi tới cái sân, tạo thành cái vô minh, đó gọi là si. Nhưng cho nên, từ cái si có thể nói là đầu hoặc cái tham là đầu; nhưng mà tất cả đều cái lỗi nặng nhất của chúng ta là “Vô minh.”

BĐ1: Dạ.

BĐ6: Nên dành thì giờ đọc kinh sách để mở trí chớ. Và ở trên Thượng Đế yêu cầu cô Kim phải dành 3 năm đọc sách mà. Khi mà Anh đọc sách, mà Anh đối diện với đối tượng của Anh, thì Anh mới bao trùm người ta được: người ta đưa ra lý lẽ gì Anh cũng trùm phủ người ta được.

BĐ16: Thầy Tám phải mấy năm đọc sách vậy?

BĐ6: Trình độ của cô Kim, ở trên yêu cầu phải ở ẩn để đọc sách 3 năm. Còn trình độ của mình có thể đọc 3000 năm.

BĐ1: Dạ, vấn đề này tôi xin có ý kiến chút xíu, là theo Pháp Lý Vô Vi đó, thì Thầy khuyên chúng ta đọc Kinh Vô Tự, nghĩa là kinh không có chữ. Nhưng mà Thầy cũng có khuyên một đoạn nữa, “Nếu trình độ các Bạn chưa đọc được Kinh Vô Tự thì nên đọc Kinh Hữu Tự;” thì tùy à! Anh em nào thích thì đọc, mà không thích thì thôi. Cái chuyện đó là không có ràng buộc gì hết.

BĐ6: Anh hỏi Thầy đọc sách bao nhiêu năm rồi; một lát Thầy xuống, Anh hỏi.

BĐ16: Bởi vì Thầy không đọc sách, mà sao Thầy giảng được.

BĐ6: Sao Anh biết Thầy không đọc sách?

BĐ15: Thầy đâu có đọc sách đâu.

BĐ1: Tôi xin thưa thế này: Thầy có đủ trình độ để đọc Kinh Vô Tự; thì thành ra quán xuyến hết cả Càn Khôn Vũ Trụ. Còn nếu chúng ta chưa có trình độ như Thầy mà muốn đọc Kinh Vô Tự, tôi thấy rất là khó. Do đó thì tùy trình độ của mỗi người, chớ không phải mình nói rồi: “À, tôi tu Vô Vi, tôi đọc Kinh Vô Tự, sách, tôi bỏ!” Nhưng mà mình đạt được cái trình độ của Thầy chưa? Thì mình mới nói như vậy; còn nếu chưa, thì cũng nên đọc sách. Mà đọc sách cũng tùy cái sở thích của từng người, chớ không phải bắt ai cũng phải đọc, và có nhiều cái trình độ, thí dụ như nãy giờ cái Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức gì đó, tôi nghe nó nhức đầu dễ sợ lắm, không hiểu gì hết à! Mà biểu tôi đọc mấy cái đó, làm sao cái đầu tôi chứa đựng được, phải không chớ!

BĐ15: Mô Phật, xin bổ túc là như, xin lỗi Chú đây…

BĐ8: Tôi tên Minh;

BĐ15: Như chú Minh nói rằng là tại sao Thầy không đọc sách mà lại giác? Như là chú Minh nên nhớ rằng, như Thầy hồi sáng nói Thầy đã tu tập trên 5000 năm rồi, thì Thầy đã từng đọc và từng tự tu lâu rồi; cho nên đến ngày hôm nay là Thầy đã giác ngộ rồi; còn mình là chưa. cho nên mình phải đọc; đọc rồi mình sẽ tu tập như Thầy.

BĐ8: Thế à! Cám ơn!

BĐ9: Bây giờ chuyển qua toán …

BĐ6: Còn 2 toán nữa lận mà.

BĐ9: Toán B hết hỏi rồi.

BĐ1: Toán C thì không có thắc mắc gì hết; nhưng mà cũng có một vài câu, cũng nêu vô đây. Thì tôi nghĩ là chắc cái điều này thì cũng tương đối dễ, thì không biết Quý Vị có sẵn sàng đưa vô câu hỏi để mà chiều nay hỏi Thầy hay không? Tôi xin đọc câu hỏi thứ nhất, cái thắc mắc thứ nhất của một anh bạn nêu lên: Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; còn phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ6: Xin nói lại!

BĐ1: Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; còn phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ6: Câu hổi đặt không có…nói là phần thiêng liêng không có kinh mạch; rồi nói kinh mạch này của phần thiêng liêng.

BĐ1: Không có! Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ17: Đối với cơ thể của chúng ta, kinh mạch là đường gân đây; nhưng mà đối với phần thiêng liêng đó, kinh là kinh điển, mạch là mạch lạc, có mạch lạc hay không. Đó là kinh điển, kinh mạch. Thành ra, thiêng liêng với chúng ta cũng như một, đó là ý kiến của em.

BĐ1: Cái câu này của một anh bạn ảnh nêu lên đó, thì tụi tôi thực ra cũng không biết như thế nào, nhưng mà ghi lại đây thôi, chỉ ghi lại đây rồi nêu lên thôi. Câu hỏi thứ hai: Khí Điển là gì? Và Điển Quang là gì? Hai thứ điển này có khác nhau không?

BĐ11: Hồi nãy có rồi.

BĐ1: Có rồi thì bỏ; câu hỏi thứ 3: Tại sao kinh là giềng mối của đạo, vì Đạo được hiểu là bao trùm cả Càn Khôn Vũ Trụ; còn kinh mạch chỉ có trong thân xác, bản thể mà thôi.

BĐ5: Theo sự hiểu biết của tôi thì nếu mà phân tích ra: Giềng cũng như cái đầu mối, cái đầu mối mình phân ra. Thành ra kinh mạch là đầu mối để mà phân ra cái đạo; cho nên, nếu mà chúng ta đả thông kinh huyệt trong này đó, thì chúng ta sẽ nắm được cái mối đạo; thành ra, mặc dù cái đạo nó bao trùm cả Càn Khôn Vũ Trụ. Nhưng mà nếu chúng ta không nắm được cái đầu mối thì chúng ta không phân ra được mối đạo; cho nên, nói là kinh là giềng mối của nhà đạo.

BĐ2: Thưa, trong cái câu hỏi mà nói: Kinh mà tại sao là giềng mối nhà đạo; thì tôi góp ý như thế này: Thì như trong kinh ông Tư nói, hệ thống thần kinh mạch là mạch, lạc, qua hệ thống thần kinh chúng ta ổn định, chúng ta đi có trật tự; mạch lạc là trở về sự quân bình. Mà quân bình là đạo, là sự tiến hóa của phần hồn trong vũ trụ. Mà Thượng Đế đã quy định trong sự tiến hóa. Thành ra do đó, khi mà chúng ta rõ được kinh mạch, là chúng ta đi vào sự quân bình. Thì đó là giềng mối đạo. Xin hết.

BĐ18: Câu hỏi thứ nhất: Hướng thượng trong lúc hành thiền là thế nào?

BĐ13: Tôi xin được phép trả lời câu hỏi này: Hướng thượng trong khi hành đạo, trong khi hành thiền, thì theo cái thiển ý của tôi nghĩ là mình gom hết trí ý của mình về bộ đầu; tại vì bộ đầu của mình là thượng giới. Mà mình có thể hiểu theo một cái nghĩa rộng khác nữa là đem hết tâm trí của mình để hòa vào Càn Khôn Vũ Trụ. Đó! Thì cái ý của tôi là như vậy.

BĐ18: Xin có bạn nào có đóng góp thêm không? Toán của tôi cũng có phân tách cái này ra nhiều lắm, hơn nửa giờ đồng hồ, vì trong đó có những cái thắc mắc là trên cái nguyên tắc Thiền Định. Thì lúc mà mình thiền đó, sự dỗ giấc ngủ, buông bỏ hết mọi việc, không nghĩ tới điều thiện cũng không nghĩ đến điều ác, bỏ hết việc đời; mà giờ này mình tập trung trên đỉnh đầu, hướng thượng mình nghĩ tới ông nào đó, thì mình vẫn còn nghĩ: cái tâm chưa có trống; thì lúc đó có bàn cãi, thảo luận cái đó, thì cũng nhờ chị Tranh và một số các bạn giải thích. Nhất là chị Tranh giải thích, cái vấn đề có thể…

[kết thúc ID#19860101Q7]

[bắt đầu ID#19860101Q7]

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Nhóm Bạn Đạo Thảo Luận Cách Hành Pháp - Cuốn 3A -

BĐ1: Thảo luận cái bài giảng của Thầy hồi sáng về Kinh A Di Đà, thì cái phần thảo luận này chúng ta chia làm 4 toán. Mỗi một toán gồm khoảng chừng 10 anh chị, không phân biệt nam, nữ vô chung 1 toán. Thì cái phần thảo luận này đó, chúng ta nhớ lại những gì Thầy giảng, rồi chúng ta ghi, nói lại, tóm lược những ý của Thầy giảng, rồi sau đó, nếu các anh em còn thiếu những điều gì, thì chúng ta bổ túc cho đầy đủ. Rồi tiếp theo thì nếu còn cái điều gì thắc mắc, hay cái gì chưa hiểu, thì trong toán Anh Chị cứ nêu lên câu hỏi; rồi trong toán của mình sẽ có một thư ký ghi nhận hết các câu hỏi đó, thì mình lần lượt mình giải đáp cho nhau. Nhưng mà cuối cùng thì đúc kết các câu hỏi đó để phần tối đó, rồi chúng ta sẽ còn có dịp gặp lại Thầy lần nữa, và Thầy sẽ đúc kết và giải đáp luôn.

Thì như vậy, thì chúng ta sẽ bắt đầu làm việc, từ 2 giờ đến 3 giờ rưỡi là thảo luận riêng từng toán, chúng ta nghỉ nửa tiếng, rồi trở lại từ 4 đến 5 giờ. Chúng ta sẽ tập hợp chung, rồi gom hết các câu hỏi của từng toán một nêu lên. Nếu có anh em nào có ý kiến gì hay thì nêu lên, hoặc là có cái phân giải thế nào đó, để mà cũng như mình nhắc nhở lại, để chúng ta lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại nhiều lần để chúng ta thâm nhập vào tâm, và sau đó được Thầy dạy thêm vào buổi tối, thì cái buổi hợp toán xin bắt đầu.

BĐ2: Đây là toán A, là vì lúc bắt đầu vô thì cũng có các toán khác; nhưng mà sau lúc chị Tranh đi đó, thì toán của chúng tôi không có thể có cái volunteer tốt như 2 toán kia. Do đó chúng tôi dùng cái chủ tâm là thanh tịnh, thành ra những câu hỏi cũng không có nhiều; thì những câu hỏi này, tại vì anh em chúng tôi không giải đáp được mà thành ra nêu ra, và có những câu thì tôi nghĩ rằng trong quá khứ đã biết, nhưng vì lỡ ăn cháo lú nên phải nhờ đến Anh Chị. Xin thành thật cảm ơn!

Câu thứ nhất: Làm thế nào để rõ luồng điển âm và dương; luồng nào là luồng âm, và luồng nào là luồng dương?

BĐ3: Để xin trả lời câu hỏi của Anh Sanh là: Luồng điển nào trong cơ thể con người là Âm, và luồng điển nào là Dương. Thì tôi nhớ lại có lần Thầy đã nói: Bên tả là dương, bên hữu là âm. Thì cái luồng dây thần kinh bên trái của chúng ta là luồng điển Dương, còn bên tay phải là luồng điển Âm. Và một cái điểm cụ thể nữa mà Thầy có nói là 2 con mắt chúng ta: mắt bên trái là Mặt Trời tượng trưng cho Dương, còn bên phải là Mặt Trăng tượng trưng cho Âm. Xin hết!

BĐ2: Thành thật cảm ơn Anh! nhưng mà có phải chăng rằng cái luồng điển Âm Dương là luồng Đốc mạch là luồng Dương, và luồng Nhâm mạch là luồng Âm chăng? Xin cám ơn anh câu trả lời, nhưng mà con người ta mục đích mà gọi là xuất được hồn đó là phải Nhâm Đốc mạch tương thông. Thì Nhâm mạch và Đốc mạch đó, thì cái Đốc mạch nó là mạch Dương, nó nằm phía đàng sau lưng; và Nhâm mạch là mạch Âm, nó nằm đàng trước; thì có phải như vậy chăng, chúng tôi không rõ? Bạn nào có câu trả lời thì trả lời, thì trả lời; nếu không thì chúng ta thông qua, để chờ Thầy giải đáp câu này. Và như vậy thì câu thứ nhất sẽ chờ Thầy góp thêm ý kiến để làm sáng tỏ, mặc dù ý kiến của Anh, bạn đạo đã đóng góp một phần nào rất hữu ích.

Câu thứ 2: Nam và Nữ đó, cái đường Âm, Dương có khác nhau không? Nếu khác thì nó khác ra sao? Vậy cái Vía và cái Hồn; cái Vía của người đàn bà lại là Dương, là một cái Dương; mà cái hồn lại là Âm. Thì ngược lại người đàn ông. Do đó, câu hỏi này đặt ra là nam, nữ đường Âm Dương có khác nhau không?

BĐ4: Đường Âm Dương là gì?

BĐ2: Dạ, đường Âm Dương có nghĩa là luồng điển đó.

BĐ5: Thưa với Anh rằng: Nam và nữ, cái điển Âm và điển Dương khác nhau, là nó khác nhau ở cái chỗ là nam thì Dương ở ngoài mà Âm thì ở trong; mà nữ thì Dương ở trong, âm thì ở ngoài. Vì thế đó, cho nên nam nữ khi gặp nhau…(có bạn đạo có ý kiến, nhưng nghe không rõ) Vậy thì để Anh Hiếu nhắc lại cho rõ cái ý thức của tôi là tôi muốn nó khác là khác ở chỗ đó. Vậy thì Anh Hiếu nhắc lại nhé.

BĐ6: Chú nói là người đàn ông á, Dương là là bên trong, Âm là bên ngoài; và người đàn bà đó, Dương là bên ngoài mà Âm là bên trong?

BĐ5: Đi ngược chiều rồi.

BĐ2: Cám ơn câu giải đáp của Anh; nhưng mà tôi nhắc lại câu hỏi của tôi như thế này: không phải cái tính thể, người đàn bà cái tính âm nó nằm ở ngoài và tính dương nó nằm ở trong. Tôi khẳng định chuyện đó là vì bên Nam Úc có những người xuất vía, xác định là chị đó xuất vía, chị thấy rõ đứa nhỏ một cách rõ ràng và minh bạch, và những bạn đạo nam xuất vía, thấy được cô vía của mình, người yêu của mình. Thành ra do đó cái câu trả lời của Anh, tôi xin góp ý là không đúng với câu hỏi tôi được nêu ra.

Tôi hỏi câu hỏi nêu ra là: Nam, nữ, đường âm dương có khác nhau không? Ý nghĩa là đường trái, phải, hoặc là cái luồng điển mà gọi là…khi thông Nhâm Đốc thì nó không khác rồi. Chị Tranh cười! chắc Chị có câu trả lời? Xin Chị!

BĐ6: (không nghe rõ câu trả lời)

BĐ7 : Vậy thì cũng được.

BĐ2: Dạ, vậy câu hỏi thứ 2; không ai trả lời được nam nữ cái đường Âm Dương có khác nhau không. Thì câu hỏi chắc tiếp tục xin trình Thầy.

Và câu thứ 3: Anh bạn hỏi hóa kiếp thì sao? Thì nam nữ cái luồng điển nó biến đổi, thì nó biến đổi ra làm sao, nếu có?

BĐ8: Hóa cái gì?

BĐ2: Hóa kiếp á! Ví dụ như nợ nần, kiếp này làm đàn ông vì ăn hiếp vợ nhiều quá, thì kiếp sau bà vợ, bả biến thành đàn ông để bả trả thù. Do đó cái thể tính, cái thể vía đó, nó biến đổi; thì như vậy, hóa kiếp nó ra sao? Và Nam, Nữ, cái luồng điển có biến hay không? Đó là câu thứ 3 nó như vậy, tạm thông qua.

BĐ9: (nghe không rõ)

BĐ2: Dạ, thưa sao ạ?

BĐ5: Chưa trả lời. Chị nói: Chưa trả lời!

BĐ2: Là vì không ai trả lời đó Chị; rồi thông qua để Thầy sẽ trả lời, Chị; hay là nếu Chị có câu trả lời thì xin …

BĐ9: Tôi nghĩ rằng, biết đâu chừng kiếp vừa rồi Anh là kiếp đàn bà, kiếp này Anh phải trở lại kiếp đàn ông; là tại vì kiếp vừa rồi Anh không biết làm cái gì sai quấy đó, Anh trở lại kiếp này, Anh trả cái quả cho bà xã Anh.

BĐ2: Về cái luồng điển nó biến ra làm sao?

BĐ9: Nói luồng điển thì tôi không hiểu, nhưng tôi nghĩ rằng cái phần Hồn Anh vẫn còn nguyên vẹn như vậy; nghĩa là Anh vẫn nhập cái xác đó, nhưng cái Hồn Anh vẫn là cái Hồn cũ.

BĐ2: Dạ, thưa phải! nhưng Chị rõ rằng: Nam á! Cái Vía là nữ, tính âm. Mà nữ thì cái Vía có tính Dương. Cái Vía của Nam Nữ, cái âm nó biến thành dương và cái dương nó biến thành âm như thế nào?

BĐ6: Theo tôi nghĩ cái luồng âm dương không có biến, không có thay đổi. nhưng mà cái linh hồn của Anh đó, khi mà cái thai đủ được 6 tháng thì cái linh hồn Anh vào. Nếu Anh phải vào cái thai nữ, thì cái luồng điển đó vào cái thai đó là cái thai nữ; nếu Anh trở lại thành một kiếp người đàn ông đó, thì luồng điển vào một cái thai noãn đã tượng hình đàn ông, chớ cái luồng điển của Anh, cái Hồn của Anh không có biến hóa.

Còn hai cái luồng điển âm dương là ở trong cái linh hồn, cái linh hồn của Anh có luồng điển âm dương rồi thì nó không có biến hóa, luồng điển âm dương không có biến hóa. Khi nói…,khi đầu thai hay là khi mà hóa kiếp hay trở lại cái kiếp khác đó, thì đề cập tới cái Hồn, còn cái Vía có. Theo tôi nghĩ là khi cái xác của Anh, nó đã thành tựu; khi Anh đã chào đời rồi ra thành con người, lục phủ ngũ tạng thành lập hết thì mới có cái Vía.

BĐ2: Thì cái Vía nó mang tính chất ví dụ như tôi. Bây giờ là Anh Trần Sanh trần trược nè hén! Mang cái Vía Âm, thì cái Hồn là cái Hồn Dương, Chị có đồng ý không? Và ngược lại, giả dụ như…

BĐ6: Ngược lại thì đó chỉ là cái sự thay đổi, vì cái cơ thể của người đàn bà là đàn bà, cho nên gọi là Hồn và Vía là gì đó thôi. Chứ Hồn là điểm linh quang, còn cái Vía là cái hỗ trợ. Anh không phải nói Anh một Hồn một Vía, người ta nói tới ba Hồn chín Vía lận. Thì cái Hồn của Anh là từ cái thức, cái giác, tới cái linh giác. Thành ra, cái mà nói phân tích ra là để chỉ cho những tầng lớp tiến hóa của điểm linh quang của Anh, của linh hồn của Anh, còn cái Vía là cái hỗ trợ thôi; còn nói tới chuyện hóa kiếp là Anh chỉ nói tới Hồn, cái điểm linh quang xuống cái thai noãn đã được tạo bằng hai cái: Noãn và cái tinh trùng của cha và của mẹ.

Cái chuyện đó là cái chuyện khi mà Anh đạt huệ rồi Anh sẽ thấy; như Thầy nói đó, tới sáu tháng không có một cái thai bào nào mà sống trước sáu tháng mà sống cả. vì lúc đó chưa có linh hồn xuống.

BĐ2: Cám ơn Chị! Nhưng mà riêng cá nhân tôi, tôi vẫn chưa thỏa mãn câu giải đáp, tại vì thế này: Khi mà Hồn Vía hợp nhất đó, có nghĩa là Âm Dương hợp nhất đó, thì mới thành điểm linh quang. Thì cái điểm linh quang nó có tính chất Âm và tính chất Dương trong đó. Chị cắt nghĩa là Hồn nó chỉ huy tất cả mà nguyên cái phần Vía phụ đi, thì tôi thiết nghĩ phần này đối với tôi rằng chưa được thõa mãn; xin phép Anh Em và Chị bổ túc thêm.

BĐ1: Cái này thì tôi chịu thua, nhưng mà tôi cũng xin hỏi Anh Sanh thế này: Mình hiểu thế nào nếu có những phụ nữ mang rất nhiều nam tính, mà cũng có nhiều người đàn ông mang rất nhiều nữ tính. Như vậy thì cái Vía mình phải hiểu nó thay đổi như thế nào? Có thay đổi hay không? Và thay đổi thì thay đổi nhiều hay ít?

BĐ2: Sự thật thì câu đó là câu hỏi của tôi, tôi đặt ra là vì tôi chưa có thể trả lời; mà nay Anh này đặt thêm một câu nữa thì tôi bí luôn.( bạn đạo cùng cười); thành ra xin Anh Sương; đây là một câu hỏi của Anh được ghi thêm. Có các Bác, các Anh Chị nào có giải đáp câu hỏi trên?

BĐ6: Chờ Thầy xuống.

BĐ2: Dạ, cám ơn Chị.

BĐ10: Dạ, thì thường cũng như là có một kỳ đó hỏi Thầy đó; thì thầy có nói: “ Nhất Bổn Tán Vạn Thù, Vạn Thù Quy Nhất Bổn”; thành ra, tất cả chúng ta đều ra từ một mối mà ra hết, Và từ cái mối đó mà do cái ý chí của chúng ta, rồi kết hợp bao nhiêu cái nghiệp quả của chúng ta mà nó tạo ra cái hình hài này. Thành ra, nam hay nữ là do chúng ta; từ cái điểm đó mà nó kết hợp cho cái ý muốn và nghiệp quả của chúng ta mà ra. Rồi từ trong đó, nó biến thể mỗi người mỗi khác hết, chớ không có một cái quy luật gì rõ rệt cho mỗi người; thành ra cái điều luồng điển Âm và Dương nó biến thể làm sao, nếu mà mỗi người đó, thì cái luồng đó, nó biến đổi trong suốt cái quá trình, trong kiếp người này và nó tiếp nối từ muôn ngàn kiếp trước nữa. Cho nên, theo tôi nghĩ là nó không có một cái quy luật gì tổng quát cho chung, mà cho mỗi con người.

Nếu thí dụ đưa Anh Ha ra, theo dõi cái luồng điển của Ảnh. Thì từ một điểm linh quang của Thượng Đế đi xuống đó, rồi chúng ta phân tách, theo dõi từng bước, từng bước một, thì nó cả một cái chuỗi dài vô tận; thành ra theo ý tôi thì nó không có một điểm gì thống nhất rõ ràng cho tất cả mọi người, mà phân tách ra từng cá nhân một; cái luồng điển nó biến đổi tùy theo trình độ tu tiến, tùy theo sự tiến hóa của mỗi một con người. Tôi xin có ý kiến như vậy.

BĐ6: Cái đó phải chờ Thầy giải đáp.

BĐ2: Dạ, thưa Anh Đức, câu hỏi thì các Anh Chị Em bạn đạo trong nhóm tôi đặt ra; mà tôi cũng tạm góp ý với câu hỏi đó như thế này; khi mà gọi là hóa kiếp, hay có nghĩa rằng được đầu thai để mà luân hồi là do nghiệp lực, mà nghiệp lực là một quá trình tổng hợp trong quá khứ. Thì do những thanh hoặc trược, thì Âm nhiều hay Dương nhiều, và do đó nó biến hóa, đó là cái ý của tôi như vậy, nhưng mà bạn đạo thôi thì, hỏi Thầy; thành ra tôi cũng xin hỏi Thầy.

Và đây là câu hỏi thứ 4: Điển quang của người tu tập có khác điển quang của nhà đèn không? Mà khác nhau là ở điểm nào, nếu có? Tôi chưa được nghe, thành ra, nếu Thầy có nói rồi, xin Anh nhắc lại.

BĐ11: Theo tôi nhớ thì Thầy có nói là điển quang mà, thì điện, điển quang cũng như nhà đèn đó, cái điển quang của mình phát ra thì nó khác nhau. Không có giống nhau, Thầy có nói hồi sáng nay, khác rất nhiều, mà khác làm sao thì tôi xin không biết. Cái đó phải chứng nghiệm mới biết được, chứ còn nếu mà dùng lời để mà giải thích thì chắc là không thể giải thích được.

BĐ6: Bây giờ nếu mấy anh nói vật chất với tâm linh là 2 sự kiện hoàn toàn khác nhau, phải không? Thì điển nhà đèn là điển vật chất, còn điển của con người là điển linh quang.

BĐ11: Đồng ý nó khác nhau, nhưng trong ý nói là giải thích như thế nào đó, giải thích như thế nào? làm sao giải thích?

BĐ6: Giải thích khác nhau như thế nào?

BĐ11: Ờ!

BĐ6: Điển nhà đèn chỉ phát ra qua vật chất cụ thể; Anh phải có dòng điện Anh nối ra, Anh phải có máy phát điện, Anh phải có vật chất để nó biến ra dòng điện. Còn nếu điển của con người Anh không có bản thể này, cũng không làm sao Anh có thể phát ra điển linh quang của Anh được hết. Thành ra vật chất có phương tiện để biến cái dòng điện nó ra ánh sáng, cũng như cái cơ thể ta để biến cái điển linh quang của chúng ta mà chúng ta cảm nhận được thôi. Và cái điển linh quang đó, người khác có cùng một tần số sẽ cảm nhận được, còn nếu sai tần số là không cảm nhận được.

BĐ12: Vậy điện của Chị là điện xoay chiều hay điện một chiều?

BĐ6: Điện của tôi không có xoay chiều mà không một chiều, vì điện của tôi không phải điện vật chất.

BĐ12: Vậy làm sao có tần số?

BĐ6: Mà điện của tôi là điển linh quang, tần số của tôi chỉ tôi biết thôi. Chừng nào Anh cùng tần số với tôi, Anh sẽ biết tôi.

BĐ12: Nếu mà khi Chị nói về điện mà có tần số là điện xoay chiều; à! Trong vấn đề điển thì nhóm của chúng tôi có cái ý kiến như thế này, và chúng tôi cũng bị kẹt trong cái câu đó. Và cuối cùng tôi đọc tới nữa thì tạm thời chúng tôi phân biệt cái định nghĩa nó như thế này: nói về điển nhà đèn, thì đây là về phương diện vật chất và thường mình quan niệm đây là một định nghĩa thôi.

Thế nào gọi là điện? Thì trong vật chất có những cái điện âm, mình gọi là electron. Thì những electron tự do đó nó di chuyển ở trong vật chất; thì khi nó di chuyển như vậy, mình gọi nó là có dòng điện; đó chỉ là định nghĩa để cho mình diễn đạt cái tư tưởng của mình mà thôi. Còn về điển ở trong cái phần Pháp Lý Vô Vi này, thì chúng tôi đọc cái phần kinh A Di Đà. Còn tới thì có phần định nghĩa điển là sức nóng. Thì chúng ta chỉ tạm nhận đó là định nghĩa mà thôi, và từ đó chúng ta mới có thể suy diễn được.

BĐ6: Điển vật chất đó Anh là sức nóng của một máy phát điện có cường độ bao nhiêu; còn điển của tâm linh là sức nóng, đồng ý, mà là sức nóng của cái gì?

BĐ12: Cái đó bây giờ chị thắc mắc thì Chị hỏi ông Tư. Ông Tư Ổng định nghĩa như vậy thì tụi tôi nói lại như vậy.

BĐ6: Sức nóng của mỗi cơ thể, máy phát điện của Anh có một cái cường độ, mỗi máy phát điện đều có cái cường độ của nó, phải không?

BĐ12: Thì Chị nói tiếp đi.

BĐ6: Thì cơ thể của Anh trở lại cái tần số, sức nóng của cơ thể của Anh, dòng điển của Anh mạnh hay yếu tới mức độ nào, chỉ có Anh biết mà thôi.

BĐ12: Nếu mà Chị nói về sức nóng, thì tôi xin trả lời về phương diện điện học với Chị như thế này: khi nào cái dòng điện nó chạy, nó gặp sức cản, từ sức cản đó, nó mới tiêu thụ dòng điện và nó sinh ra cái sức nóng. Và tùy theo sức cản nó nhiều hay ít sẽ tạo ra cái sức nóng nhiều hay là ít.

BĐ6: Thì trong cơ thể điển tâm linh theo tôi cảm nhận cũng vậy thôi à.

BĐ12: Nhưng mà ở đây, trong cái phần điển tâm linh này, thì như hồi nãy nhóm của chúng tôi có bàn: Thấy nóng đó, nhưng mà rờ vô không thấy nóng.

BĐ6: Tại sao?

BĐ12: Thầy giảng như vậy.

BĐ6: Anh rờ được không? Điển tâm linh, Anh rờ có được không mà Anh nói rờ không thấy nóng?

BĐ12: Tôi nói là: rờ vô cái cơ thể của Chị.

BĐ6: Điều này tôi xác nhận rằng: Khi mà Anh vận chuyển cho dòng điển tâm linh chạy trong cơ thể Anh đó, rờ sẽ thấy nóng, tôi bảo đảm như vậy; mà bây giờ tôi thở một cái là Anh thấy nóng liền.

BĐ12: Nếu mà Chị nói như vậy thì nhóm của chúng tôi cũng có bàn qua vấn đề đó, là khi mà Chị thở, lúc Chị làm Pháp Luân Thường Chuyển là lúc Chị đương nén khí. Và bất cứ một cái gì mà khi Chị nén như vậy thì có cái sự ma sát, mà chính sự ma sát đó tạo ra cái nhiệt.

BĐ6: Thì như vậy, tại sao Anh nói sờ không thấy nóng.

BĐ12: Nhưng mà cái điển của con người ta, Chị thấy thật nóng nhưng mà sờ không thấy nóng là tại làm sao? Như hồi nãy Anh Tác trong nhóm chúng tôi cũng có nói: Chị rờ Chị thấy nóng như vậy; rồi cái người kia, Chị rờ Chị thấy nó nguội, nhưng mà, nếu mà Chị dùng cái nhiệt kế Chị đo đều 37 độ hết, thì Chị cảm thấy thế nào?

BĐ6: Trả lời câu hỏi là dùng nhiệt kế đo vẫn thấy 37 độ là vì Anh dùng nhiệt kế điển vật chất để Anh đo điển tâm linh của tôi là chuyện trật lất thì làm sao Anh đo được. Thì Anh không thể đo được, Anh không thể dùng cái phương tiện đó để đo được, cho nên không thể nói rằng nóng hay lạnh và đo được hay không được.

BĐ12: Bây giờ cái phần nóng hay lạnh đó, nếu mà Chị chỉ dùng xúc giác để Chị đo lường, thì xúc giác không thể cho Chị một sự chính xác. Chính vì vậy mà ăn thua cái cảm giác của Chị nhiều lắm; Chị cảm thấy nóng nhưng sự thật nó không nóng.

BĐ13: Đúng, đúng rồi.

BĐ12: Nếu Chị đồng ý thì chúng ta thông qua.

BĐ6: Bây giờ toán A rút ngắn thời gian đi, chớ toán A chiếm hết nữa giờ rồi đó.

BĐ2: Đại khái về điện không, thì nó như vậy đó.

Tới câu hỏi thứ 5: Vi trùng sốt rét có phải chăng đây là danh từ gọi chung các loại trược và loại bệnh, chớ không phải là gọi chỉ riêng vi trùng sốt rét không?

BĐ6: Theo tôi nghĩ cái đó, đúng đó. Ông Tư chỉ gọi một cái đại khái, chỉ điển hình vậy thôi, chớ không phải là chỉ riêng, nói riêng về bệnh sốt rét đâu.

BĐ2: Dạ, đó là câu hỏi chót, và cảm ơn! câu hỏi này thì trong nhóm tôi thõa mãn. Xin nhường lại cho toán B.

BĐ14: Toán B chỉ có một câu hỏi là thắc mắc về vấn đề: “Thập Tam Ma”; tại vì có bạn đạo nói: Thập Tam Ma có phải thất tình lục dục không?

BĐ2: Tôi xin góp ý về Thập Tam Ma, Thập Tam Ma nó gồm có: Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, không có Dục, bởi vì cái chữ Dục nó nằm trong chữ Tham rồi, đó là thất tình. Còn cái lục dục là nó gồm có: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thân, Thiệt, Ý. Cộng 2 cái là 6,7 bằng 13, số xui.

BĐ13: Có Anh thì nói là Lục Căn, Lục Trần.

BĐ2: Cái Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt của Anh nói là lục căn, chứ cái đó đâu phải 6 con ma. Mà tương ứng với Lục Căn đó là Lục Trần, thì mình tạm thời mình gọi đó là nghiệp lực; ý của tôi góp như vậy đó, bởi vì đối với tôi, Lục Căn - nó chính là con ma khi nó còn trần trược, và khi nó không còn trần trược, nó thành Lục Thông. Thì Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý đó là 6 con ma, và cái thất tình là Tham, Sân, Si, Hỷ , Nộ, Ái, Ố; Anh Em thì sao không biết, chớ tôi còn.

BĐ15: Dạ thưa, Hoàng Ân xin bổ túc là: Cái thất tình lục dục như Anh Sanh nói, thì tạm đúng, như là cái Lục Dục đó là Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố. Còn xác định là Lục Căn không cũng không đúng; mà Lục Trần không cũng không đúng. Đó là biểu tượng của Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Tức nhiên là ở trong đó tại sao lại có Hỷ? Thí dụ bây giờ: sắc là gì? Tượng trưng cho phái nữ là đẹp. Khi mà chúng ta nhìn cái đẹp thì ở nội tâm sanh ra một cái vui, tham muốn; cho nên chính vì đó, Ân thí dụ, chỉ một điển hình là đối trị lại là từ ở trong Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố và đối trị lại cái lục dục đó là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, ở biểu tượng nó như vậy; nó mới có liên hệ, nó liên hệ từ trong cái lục căn, trong cái tâm thức; nhưng nó phải có sự đối tượng, nó mới phát sinh được. Thí dụ: Bây giờ sắc là tiền, mà bây giờ muốn phát sinh ra cái lòng tham, thì đương nhiên phải thấy tiền nó mới phát sinh ra cái lòng tham. Thì sắc đó là cái đối tượng để cho mình thấy, và cái lòng tham đó nó mới bắt đầu nó phát khởi được.

Nếu mà nói tới Lục Căn Lục Trần, thì phải nói tới Lục Thức, như vậy là nó tới 18 xứ, tổng tất cả là 18 xứ; nhưng mà bây giờ chỉ nói thất tình lục dục, thì chính nó là Tham, Sân, Si, Hỷ, Nộ, Ái, Ố và Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Thì chính cái đó là cái tương đối để đối trị với nhau mà phát sinh ra cái sự phiền não; nói chung đó là Trược mà như chúng ta đã nói. Thì cái đó là tất cả những cái sự khổ của con người mà bây giờ chúng ta phải, cần phải giải nó ra.

Còn nếu mà nói đi sâu hơn là nói về Lục Căn thì đó là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý. Còn nếu mà nói về Lục Thức, thì đó là, mình có mắt là nói về cái thị giác, mà nói về tai thì phải có cái thính giác. Đương nhiên nó phải có sự đối trị tương đối với nhau: Nó có ý là khi Anh tiếp xúc với ngoại cảnh, từ cái căn mà Anh tiếp xúc với ngoại cảnh có, thì mới phát khởi cái ý. Nếu trường hợp, bây chẳng hạn như bây giờ, như Hoàng Ân gặp vợ Hoàng Ân, trước tiên khi gặp cái cô đó mà cảm thấy rằng, vừa ý, thích, thì tất nhiên cái ý nó nổi lên. Đây là “Tôi thích cái cô này.” Nếu trường hợp mình không gặp cái cô đó, đương nhiên cái ý sẽ không nổi lên. Cho nên, từ tất cả, từ cái ngoại cảnh cho đến Lục Căn phát sinh ra là cái Lục Thức.

Bây giờ thí dụ: Bây giờ cái lưỡi của Anh, Anh không nếm một mùi gì, đương nhiên Anh không có ý nói “Đây là ngọt,” hay là chua cay. Nhưng khi Anh ăn nhằm một trái ớt; trái ớt đó là sắc là cái trần, mà cái lưỡi đó là cái căn. Nhưng mà khi cái ý Anh nổi lên, đó là khi Anh đã nếm nó là chất nóng, chất cay, thì ý ở trong đầu bắt đầu nổi lên. Tất nhiên cái đó là phải đi cả tương đối nổi lên cùng một lúc, chớ không thể nào mà từng cái một chia rẽ ra được; nó có cùng một lúc rồi nó sẽ tan dần cùng một lúc khi Anh bắt đầu ý thức nó. Cái ý của Anh, nó là cái ý từ nơi cái sự duyên đối đãi, nó mới phát khởi; nhưng mà cái thức của Anh là cái thức bây giờ cũng như chúng ta. Tại sao chúng ta chịu tu? Là tại vì chúng ta thấy rằng: Từ cái thất tình lục dục đó là cái sự khổ, đó là thức; Anh trở về con đường tu đó là thức; nếu mà chúng ta không thức thì chúng ta sẽ bị đọa lạc theo cái thất tình lục dục.

Còn cái ý của tôi nói đây, đó là duyên. Duyên với nhau mới khởi được cái ý niệm, mà ý niệm đó, Anh mới trở thành có cái “Ta,” là tất nhiên là có “Tôi thích nó,” và “Người đó phải là của tôi.” Và từ đó người đó khi chấp nó vào cái tôi rồi, thì nó mới lọt vào thêm một cái thức nữa, đó cái gọi là tiềm thức, mà phật giáo gọi là A Lại Da Thức; thì cái tiềm thức đó là lúc nào Anh cũng muốn gìn giữ những cái gì mà Anh đã nắm nó được, rồi Anh không bao giờ buông ra.

Nhưng mà bây giờ cái thức của Anh là thế nào? Là cái giác, tất nhiên là Anh ý thức được cả những sự sống trong cuộc đời này, do những cái đó mà gây ra những sự khổ. Bây giờ chúng ta phải làm sao giải thoát sự khổ, đó là cái thức; cũng từ trong tất cả những cái duyên đối đãi đó mà Anh phải có cái thức; cho nên, Phật Giáo mới nói kết cuộc một câu là: Phiền não là bồ đề. Tham sân si là thượng thanh hòa do Anh Yêm nói, đó là một sự từ có cái tham sân si mới đi đến cái giới định huệ mà phát lên, mà đi đến cái giới Phật tánh là cái chỗ đó. Còn tất cả những từ “Lục Căn, Lục Trần và Lục Thức” chỉ là cái sự duyên đối đãi với nhau mà tạo thành cái có mà thôi. Nhưng khi chúng ta thức, tất cả trở về không hết, khi đó là Anh đã giải thoát. Xin hết!

BĐ1: Thất Tình, thì Tham Sân Si không nằm trong Thất Tình, mà Thất Tình gồm có: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc và Cụ, còn Tham Sân Si là thành một cái nhóm riêng rồi; thì thất tình nghĩa là Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc và Cụ.

BĐ15: Dạ, thưa Anh Phương nói cũng đúng, nhưng mà chung quy cũng chỉ có nằm trong Tham Sân và Si. Thí dụ bây giờ Anh Hỷ, Nộ, Ái, Ố; thì bắt đầu từ cái dục, cái đó là cái tham. Mà khi Anh đi ngược lại cái gì mà Anh không vừa ý, đó là cái sân. Nhưng mà từ có cái dục mà đi tới cái sân, tạo thành cái vô minh, đó gọi là si. Nhưng cho nên, từ cái si có thể nói là đầu hoặc cái tham là đầu; nhưng mà tất cả đều cái lỗi nặng nhất của chúng ta là “Vô minh.”

BĐ1: Dạ.

BĐ6: Nên dành thì giờ đọc kinh sách để mở trí chớ. Và ở trên Thượng Đế yêu cầu cô Kim phải dành 3 năm đọc sách mà. Khi mà Anh đọc sách, mà Anh đối diện với đối tượng của Anh, thì Anh mới bao trùm người ta được: người ta đưa ra lý lẽ gì Anh cũng trùm phủ người ta được.

BĐ16: Thầy Tám phải mấy năm đọc sách vậy?

BĐ6: Trình độ của cô Kim, ở trên yêu cầu phải ở ẩn để đọc sách 3 năm. Còn trình độ của mình có thể đọc 3000 năm.

BĐ1: Dạ, vấn đề này tôi xin có ý kiến chút xíu, là theo Pháp Lý Vô Vi đó, thì Thầy khuyên chúng ta đọc Kinh Vô Tự, nghĩa là kinh không có chữ. Nhưng mà Thầy cũng có khuyên một đoạn nữa, “Nếu trình độ các Bạn chưa đọc được Kinh Vô Tự thì nên đọc Kinh Hữu Tự;” thì tùy à! Anh em nào thích thì đọc, mà không thích thì thôi. Cái chuyện đó là không có ràng buộc gì hết.

BĐ6: Anh hỏi Thầy đọc sách bao nhiêu năm rồi; một lát Thầy xuống, Anh hỏi.

BĐ16: Bởi vì Thầy không đọc sách, mà sao Thầy giảng được.

BĐ6: Sao Anh biết Thầy không đọc sách?

BĐ15: Thầy đâu có đọc sách đâu.

BĐ1: Tôi xin thưa thế này: Thầy có đủ trình độ để đọc Kinh Vô Tự; thì thành ra quán xuyến hết cả Càn Khôn Vũ Trụ. Còn nếu chúng ta chưa có trình độ như Thầy mà muốn đọc Kinh Vô Tự, tôi thấy rất là khó. Do đó thì tùy trình độ của mỗi người, chớ không phải mình nói rồi: “À, tôi tu Vô Vi, tôi đọc Kinh Vô Tự, sách, tôi bỏ!” Nhưng mà mình đạt được cái trình độ của Thầy chưa? Thì mình mới nói như vậy; còn nếu chưa, thì cũng nên đọc sách. Mà đọc sách cũng tùy cái sở thích của từng người, chớ không phải bắt ai cũng phải đọc, và có nhiều cái trình độ, thí dụ như nãy giờ cái Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức gì đó, tôi nghe nó nhức đầu dễ sợ lắm, không hiểu gì hết à! Mà biểu tôi đọc mấy cái đó, làm sao cái đầu tôi chứa đựng được, phải không chớ!

BĐ15: Mô Phật, xin bổ túc là như, xin lỗi Chú đây…

BĐ8: Tôi tên Minh;

BĐ15: Như chú Minh nói rằng là tại sao Thầy không đọc sách mà lại giác? Như là chú Minh nên nhớ rằng, như Thầy hồi sáng nói Thầy đã tu tập trên 5000 năm rồi, thì Thầy đã từng đọc và từng tự tu lâu rồi; cho nên đến ngày hôm nay là Thầy đã giác ngộ rồi; còn mình là chưa. cho nên mình phải đọc; đọc rồi mình sẽ tu tập như Thầy.

BĐ8: Thế à! Cám ơn!

BĐ9: Bây giờ chuyển qua toán …

BĐ6: Còn 2 toán nữa lận mà.

BĐ9: Toán B hết hỏi rồi.

BĐ1: Toán C thì không có thắc mắc gì hết; nhưng mà cũng có một vài câu, cũng nêu vô đây. Thì tôi nghĩ là chắc cái điều này thì cũng tương đối dễ, thì không biết Quý Vị có sẵn sàng đưa vô câu hỏi để mà chiều nay hỏi Thầy hay không? Tôi xin đọc câu hỏi thứ nhất, cái thắc mắc thứ nhất của một anh bạn nêu lên: Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; còn phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ6: Xin nói lại!

BĐ1: Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; còn phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ6: Câu hổi đặt không có…nói là phần thiêng liêng không có kinh mạch; rồi nói kinh mạch này của phần thiêng liêng.

BĐ1: Không có! Con người nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch; phần thiêng liêng không có thân xác nên không có kinh mạch. Thì lối kinh mạch này của phần thiêng liêng có ý nghĩa như thế nào?

BĐ17: Đối với cơ thể của chúng ta, kinh mạch là đường gân đây; nhưng mà đối với phần thiêng liêng đó, kinh là kinh điển, mạch là mạch lạc, có mạch lạc hay không. Đó là kinh điển, kinh mạch. Thành ra, thiêng liêng với chúng ta cũng như một, đó là ý kiến của em.

BĐ1: Cái câu này của một anh bạn ảnh nêu lên đó, thì tụi tôi thực ra cũng không biết như thế nào, nhưng mà ghi lại đây thôi, chỉ ghi lại đây rồi nêu lên thôi. Câu hỏi thứ hai: Khí Điển là gì? Và Điển Quang là gì? Hai thứ điển này có khác nhau không?

BĐ11: Hồi nãy có rồi.

BĐ1: Có rồi thì bỏ; câu hỏi thứ 3: Tại sao kinh là giềng mối của đạo, vì Đạo được hiểu là bao trùm cả Càn Khôn Vũ Trụ; còn kinh mạch chỉ có trong thân xác, bản thể mà thôi.

BĐ5: Theo sự hiểu biết của tôi thì nếu mà phân tích ra: Giềng cũng như cái đầu mối, cái đầu mối mình phân ra. Thành ra kinh mạch là đầu mối để mà phân ra cái đạo; cho nên, nếu mà chúng ta đả thông kinh huyệt trong này đó, thì chúng ta sẽ nắm được cái mối đạo; thành ra, mặc dù cái đạo nó bao trùm cả Càn Khôn Vũ Trụ. Nhưng mà nếu chúng ta không nắm được cái đầu mối thì chúng ta không phân ra được mối đạo; cho nên, nói là kinh là giềng mối của nhà đạo.

BĐ2: Thưa, trong cái câu hỏi mà nói: Kinh mà tại sao là giềng mối nhà đạo; thì tôi góp ý như thế này: Thì như trong kinh ông Tư nói, hệ thống thần kinh mạch là mạch, lạc, qua hệ thống thần kinh chúng ta ổn định, chúng ta đi có trật tự; mạch lạc là trở về sự quân bình. Mà quân bình là đạo, là sự tiến hóa của phần hồn trong vũ trụ. Mà Thượng Đế đã quy định trong sự tiến hóa. Thành ra do đó, khi mà chúng ta rõ được kinh mạch, là chúng ta đi vào sự quân bình. Thì đó là giềng mối đạo. Xin hết.

BĐ18: Câu hỏi thứ nhất: Hướng thượng trong lúc hành thiền là thế nào?

BĐ13: Tôi xin được phép trả lời câu hỏi này: Hướng thượng trong khi hành đạo, trong khi hành thiền, thì theo cái thiển ý của tôi nghĩ là mình gom hết trí ý của mình về bộ đầu; tại vì bộ đầu của mình là thượng giới. Mà mình có thể hiểu theo một cái nghĩa rộng khác nữa là đem hết tâm trí của mình để hòa vào Càn Khôn Vũ Trụ. Đó! Thì cái ý của tôi là như vậy.

BĐ18: Xin có bạn nào có đóng góp thêm không? Toán của tôi cũng có phân tách cái này ra nhiều lắm, hơn nửa giờ đồng hồ, vì trong đó có những cái thắc mắc là trên cái nguyên tắc Thiền Định. Thì lúc mà mình thiền đó, sự dỗ giấc ngủ, buông bỏ hết mọi việc, không nghĩ tới điều thiện cũng không nghĩ đến điều ác, bỏ hết việc đời; mà giờ này mình tập trung trên đỉnh đầu, hướng thượng mình nghĩ tới ông nào đó, thì mình vẫn còn nghĩ: cái tâm chưa có trống; thì lúc đó có bàn cãi, thảo luận cái đó, thì cũng nhờ chị Tranh và một số các bạn giải thích. Nhất là chị Tranh giải thích, cái vấn đề có thể…

[kết thúc ID#19860101Q7]

[bắt đầu ID# 19860101Q8]

Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: BĐ Đàm Đạo - Cuốn 3B -

Bạn đạo: Nguồn gốc của Lục Tự Di Đà, khi Phật Thích Ca vô rừng ngồi thiền để đắc đạo, thì Ngài đã khám phá ra cái Nguyên lý “Nam Mô A Di Đà Phật,” và truyền bá, coi đó như là một pháp môn trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của Nhà Phật. Thì ai là người tạo ra cái nguyên lý đó để cho Phật Thích Ca khám phá và đắc đạo? Xin quý toán khác có ý kiến gì hay để giải đáp thêm? Cho toán D học với.

(bạn đạo cười)

Bạn đạo: À; tôi có ý kiến trong cái vấn đề đó. Tôi thì không có đọc sách nào hết; tôi cố tôi đọc Kinh Vô Tự mà đọc hoài đọc không được; nhưng tôi nghĩ rằng, tôi nghĩ, khi mà mình khám phá ra một cái gì đó, thường là do sự tình cờ; cũng như tôi có nghe giảng qua một lần về vấn đề tại sao người ta tìm ra được cái khoa châm cứu học. Hồi ngày xưa, các người học võ, một khi họ bị cái gì đó, họ ngồi, họ nắn bóp đau đau, họ nhận vậy, cái họ khám phá ra. Thì cái Lục Tự A Di Đà, tôi cũng nghĩ như vậy, à, khi Đức Phật hành thiền, thì tình cờ ổng niệm những cái âm thinh theo cái tiếng Phạn, rồi ổng khám phá ra được điều đó. Chớ tôi không nghĩ rằng ổng học từ cái sách vở nào khác.

Bạn đạo: Nhưng mà sao lúc đó ổng lại biết những âm thinh đó ổng niệm, mà ổng không tìm những âm thinh khác.

Bạn đạo: Đó là một sự tình cờ thôi, cũng như Newton, tại sao tình cờ tìm ra được cái sức hấp dẫn của quả đất?

Bạn đạo: Cái đó nhờ đấng tạo hóa.

Bạn đạo: Như vậy thì Anh có chấp nhận rằng cái nguồn gốc của “Nam Mô A Di Đà Phật” đó là do tạo hóa tạo nên, gầy dựng nên không?

Bạn đạo: Tôi cũng xin đóng góp trả lời toán D cái câu hỏi này. Theo cái sự hiểu biết của tôi, thì câu này đó, thì tôi có được nghe trong băng, Thầy giảng: trong cái lúc mà Phật Thích Ca, cô thế ngồi giữa rừng đó, thì chính Ngài tìm ra cái Nguyên Lý “Nam Mô A Di Đà Phật;” thì nó cũng nằm trong cái quy luật của càn khôn vũ trụ, nằm trong cái Ngũ Hành. Thì Thầy có giải rõ cái chỗ này, trong một cuồn băng mà tôi được nghe. Thì cũng một cái ý khác trong cái sự hiểu biết của tôi, thì “Nam Mô A Di Đà Phật” đó, thì tiếng Phạn thì dịch là, “Cúi đầu lạy đức Vô Lượng Quang Phật;” và đức Kim Thân Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng có giảng: “Nam Mô A Di Đà Phật” là tên của một vị Phật, tức là Vô Lượng Quang Phật; và đồng thời “Nam Mô A Di Đà Phật” cũng là một thể tính sáng suốt của Thượng Đế. Như vậy cái Nguyên Lý Nam “Mô A Di Đà Phật” mà Thầy đã giảng đó, cũng như nó đã có từ đời đời, nó là một thể tính của Thượng Đế, một thể tính sáng suốt của Thượng Đế, cho nên nó phải có đời đời; và chính vì nó là một nguyên lý bất diệt, cho nên Đức Phật Thích Ca đã tìm ra cái nguyên lý này, thì nó đã có sẵn trong càn khôn vũ trụ; cho nên Ngài đã đắc pháp. Và Thầy đã xác nhận qua một cuồn băng, mà tôi không nhớ rõ băng đó nguồn gốc ở đâu; nhưng mà tôi đã được nghe rõ ràng. Xin dứt lời.

Bạn đạo: Cám ơn Anh; Anh nói nhiều về cái phần định nghĩa. Nhưng mà, ở đây, như vậy thì chắc Anh cũng xác nhận, nếu tôi không lầm, thì cái nguồn gốc của “Nam Mô A Di Đà Phật” đó là do Thượng Đế tạo ra; phải không?

Bạn đạo: Dạ thưa, thì, bởi vì nó là một thể tính sáng suốt của Thượng Đế, thì, theo “Thượng Đế Giảng Chơn Lý,” thì “Trong càn khôn vũ trụ không có cái gì ngoài sự kiểm soát của Thượng Đế. Nếu như một cái gì nằm ngoài thiên ý, tức là ngoài cái sự kiểm soát của Thượng Đế, thì Thượng Đế không còn là chơn lý tuyệt đối nữa.” Cho nên, “Nam Mô A Di Đà Phật” là một thể tính sáng suốt của Thượng Đế thì nó phải nằm trong cái nguyên lý đó.

Bạn đạo: Cho phép tôi có một chút, vài lời thôi; là nếu mà tìm nguồn gốc của Lục Tự Di Đà, đó, thì mình cũng nên trở lại với cái Pháp Lý Vô Vi.

Bạn đạo: Dạ, theo như anh Thành nói thì, ý của toán của tôi cũng giải thích cũng như vậy, nhưng mà cái ý của anh Phương đó thì đúng rồi: Vì ở trên chuyển cho nên Phật Thích Ca mới khám phá ra được. Nhưng cái câu hỏi của tôi là, cái nguồn gốc, nó có phải của Thượng Đế tạo ra hay không? Cái câu trả lời của anh Thành như vậy cũng thỏa mãn rồi, xin cám ơn. Nếu quý vị có ý kiến gì hay hơn thì góp ý. Dạ, dạ, dạ! Toán D thì có 2 câu như vậy mà thôi. Xin hết.

Bạn đạo: Không, tôi nghĩ thì chiều nay mình cũng có một số thời giờ đó. Thì những câu hỏi này, đôi khi anh em cũng được giải đáp giữa các bạn đạo với nhau rồi, thì nếu mà cái toán C đó, thấy nó lũng cũng quá đó, thì toán C tự ý xin rút lui mấy câu hỏi này. Còn riêng mấy cái toán khác đó, thì cũng xin nêu lên để, có dịp, Thầy giảng thêm.

Thì hôm nay đó, tôi xin thông báo thêm đến các anh chị, đó, là cái chương trình thì mình sẽ gặp gỡ Thầy vào từ 7 giờ đến 9 giờ; nhưng mà cô Hoàng Vinh cho biết 7 giờ, giờ đó Thầy mới ăn cơm, thành ra để Thầy nghỉ. Thì Thầy có thể gặp gỡ chúng ta từ 8 giờ đến 9 giờ rưỡi. Nếu như vậy có tiện hay không? Nếu tiện thì chúng ta, 8 giờ chúng ta sẽ tập trung ở đây. Rồi Thầy đến và giải đáp thắc mắc; nếu trong những cái thắc mắc này, nếu mà Thầy giảng mà còn dư thời giờ, thì các anh chị cũng có thể tùy theo cái thắc mắc trong buổi thảo luận, hay thắc mắc nào đó liên quan đến Kinh A Di Đà, thì xin nêu lên để Thầy giảng thêm. Thì cái buổi, mấy anh chị còn ý kiến gì thêm nữa trong cái buổi học tập thảo luận suốt buổi chiều nay á, thì xin cho biết, còn nếu không có ý kiến gì đó,

Bạn đạo: Tôi xin góp ý với Anh chút xíu. Đành rằng anh em đã giải đáp những câu hỏi do các toán nêu lên, mình tạm cho rằng mình thỏa mãn, hay là không thỏa mãn. Nhưng mà, thiết nghĩ, nếu có thì giờ, mình nên sửa những câu hỏi đó để mình đạo đạt lên; biết đâu Thầy có những cao kiến gì hay, hay là chính xác hơn, để tất cả các toán cùng học hỏi thêm. Do đó, tôi đề nghị Anh cũng không nên rút lui những câu hỏi của toán Anh, và cứ nêu lên hết, nhưng mà mình sửa lại cái hình thức cho nó rõ, gọn đi.

Bạn đạo: Dạ, thưa thật đó, thì vấn đề tìm hiểu Kinh A Di Đà đó, thì kinh là điển, hiểu thì nó mênh mông quá đi. Thành ra anh em thảo luận đôi khi đi ra rất nhiều, ra rất xa với cái đề tài. Thành ra thật sự nó đi vào cái chỗ kể như là mình không biết lối nào để mà trở lại với cái buổi thảo luận, thành ra kể ra cũng hơi khó khăn đó. Ví dụ như cho một đoạn văn nào đó, rồi anh em thảo luận, tìm hiểu thì tương đối nó dễ; còn cái này không phải tìm hiểu cái nghĩa của chữ mà tìm hiểu cái điển giới ông Tư gửi gấm vào đó. Thì cái điều đó rất là phức tạp và cũng rất là khó đối với mình, đối với trình độ của mình ngày nay. Nếu anh em không có ý kiến gì them, thì cái buổi học tập mình tạm dứt ở đây và nghĩ ngơi.

Bạn đạo: Như vậy thì tôi thấy để mình tự do nêu câu hỏi ra, và trả lời như vậy đó, thì thiệt là, riêng tôi, tôi cảm thấy khó vô cùng. Mình không đủ khả năng trả lời những câu hỏi quá hóc búa; mà nếu mình có trả lời, mình cũng không chắc rằng nó trúng nữa đâu; mà nhiều khi nó đi ra ngoài, nó, không nhiều thì ít, nó cũng đi ra ngoài cái bài Thầy giảng đầu tiên của Kinh A Di Đà này. Cho nên những bài sau tôi xin mạn phép được đề nghị như vậy, nếu quý anh nghiên cứu coi ra sao: Thầy giảng tới đoạn nào, cái toán thảo luận đó, mình có nên đọc lại nhanh từ phần, để coi anh em của mình có đả thông trong những cái phần đó? Mình nắm vững cái căn bản của sách viết ra cái đã; rồi từ đó, nếu mình có những câu hỏi nào mà nảy sanh ra thêm trong cái phần đó, thì mình hỏi, nó tiện hơn. Chớ mình hỏi, nó khó quá, ngoài cái, phần sách đã khó cho mình rồi, mà cái câu hỏi nó cũng quá khó nữa, rồi mình thảo luận trên cái khó đó, mất quá nhiều ngày giờ, mà mình cũng không nắm vững. Xin cám ơn; xin hết.

Bạn đạo: A, trong một ngày học tập hôm nay, thì tôi thấy Ban Tổ Chức nên gặp Thầy khoảng nửa tiếng đồng hồ trước khi Thầy xuống đây để bàn lại, bởi vì cuốn Kinh a di đà này gồm có 150 trang. Mà hồi sáng này Thầy giảng chỉ có 2 trang thôi, và tất cả những câu hỏi đưa ra tôn trọng tinh thần tu học của Thầy, là Thầy nói, “Tôn trọng ý kiến và đặt câu hỏi của mỗi bạn đạo;” cho nên mình hoàn toàn được đưa ra. Nhưng nếu các anh rút kinh nghiệm hồi sáng này, thì mình phí một tiếng rưỡi đồng hồ để nhiều cá nhân nói lên những cái tu chứng riêng của cá nhân người đó, rất phí phạm thì giờ của người khác. Thì yêu cầu anh Phương nên gặp Thầy, là bây giờ Thầy nói 10 ngày tu học này bằng mười năm tu học, mà nếu 1 ngày đã trôi qua mình chỉ học được một trang, thì 10 ngày nữa mình chỉ học được có 10 trang thôi! Thành ra bây giờ nếu mình lên mình bàn với Thầy là mỗi một ngày mình phải học 15 trang, thì mình nên rút ngắn cái thì giờ đặt câu hỏi không bổ ích chung, để Thầy giảng cho hết cái bộ Kinh A Di Đà này, bởi vì cái khóa này là khóa Kinh A Di Đà, mà mình tốt nghiệp mình không có đọc tới cái trang cuối thì thật là uổng! Như vậy mình phải nghiên cứu lại. Nếu mà Thầy không có giảng hết mười lăm trang đó, thì mình họp lại với nhau trong cái buổi chiều mình học tập, mình đọc cho hết 15 trang đó, và mình tìm tất cả những cái khó khăn, mình nêu ra để Thầy giải thích.

Thì bây giờ á, 7 giờ mình ăn cơm tới 8 giờ; 6 giờ ăn cơm tới 7 giờ, thì 7 giờ đến 8 giờ, mình xuống đây đọc tiếp 15 trang nữa, và mình rút ra những cái gì mà mình không hiểu được, để tối nay mình hỏi Thầy luôn. Ban tổ chức mấy anh đề nghị như thế nào là, các anh trình lên là Thầy sẽ theo như vậy, các anh nói rằng: “Trong 15 trang đó, tụi con phân tích ra như vậy,” thì tui nghĩ Thầy sẽ (…. không nghe rõ 12:52) . Quý anh chị thấy sao?

Bạn đạo: Cho tôi xin góp ý kiến một chút, tôi thấy ý kiến chị Tranh đưa ra rất là xác thực, nhưng mà bây giờ trong một giờ đồng hồ mình áp nhau, mình đọc mười lăm trang đó, thì tôi thấy cũng hơi trễ. Thành ra bây giờ mình tìm cái phương pháp, mình đề nghị bắt đầu từ ngày mai, lúc Thầy giảng để cho Thầy giảng, chỉ đặt những câu hỏi nào liên quan tới cái phần Thầy vừa giảng qua mà mình chưa thấu suốt. Rồi để cho Thầy đi suốt, đừng hỏi câu hỏi cá nhân. Vấn đề thứ hai là, Thầy giảng nhanh tới cái đoạn nào đó, rồi buổi chiều mình, trong giờ thảo luận riêng hay chung đó, mình áp nhau mình đọc trở lại để cho thấm nhuần, nếu có câu hỏi nào thắc mắc nữa mình sẽ ghi ra, mình hỏi; nếu mình không có đả thông được; hoặc là mình đọc tới trong cái buổi chiều thì tiện hơn; chứ buổi hôm nay trong một giờ mình đọc được mấy trang đây ?

Bạn đạo: Mà nếu tối nay từ 8 giờ tới 9 giờ rưỡi tức là một tiếng rưỡi đồng hồ; mà những câu hỏi mình nêu ra Thầy chỉ giải thích trong vòng nửa tiếng, thì đề nghị Thầy đi tiếp.

Bạn đạo: Tôi cũng có ý kiến là như hồi sáng mình thấy, cái số người mà tham dự cái buổi học rất là đông. Mà thực sự ra thì cái số người chính mà tham sự khóa này nè, mình nhìn lại đâu có đông như hồi sáng! Thì sở dĩ mà hồi sáng mất thì giờ nhiều là, có lẽ một số ở bên ngoài không dự khóa chính thức này, họ vô đây họ tham dự, rồi họ phát biểu ra những cái thắc mắc của cá nhân của họ, nên nó mất cái thì giờ chung của tất cả chúng ta. Vì vậy, nếu có thể được, chúng ta có thể làm sao mà hạn chế cái số người ở ngoài á, vô đây trong cái lúc mà chúng ta học tập; thì như vậy mình có thể speed up cái tốc độ học của mình nó nhanh hơn lên. Thì tôi chỉ có ý kiến như vậy thôi; tùy ban tổ chức quyết định.

Bạn đạo : Vấn đề người ở ngoài vào đó, rất là tế nhị; thì yêu cầu anh Phương, ngày mai nếu anh thấy những câu hỏi nào mà không ăn vào trong chương trình, thì xin yêu cầu Anh nhắc khéo.

Bạn đạo: Chị có cái dây treo cổ không? Chị cho tôi treo lên. (bạn đạo cười)

Bạn đạo: Tôi, tôi, tôi có thể làm việc đó thay cho anh Phương ngày mai.

Bạn đạo: Dạ.

Bạn đạo: Để tôi nhắc khéo.

Bạn đạo: Dạ.

Bạn đạo: Câu hỏi ứng khẩu mà đâu có viết ra đâu mà đưa lên.

Bạn đạo: Dạ, cái vấn đề này tôi xin giải quyết như thế này. Trước khi vô khóa mà Thầy giảng, thì tôi sẽ nói thêm là những câu hỏi nào liên quan đến ấn chứng riêng tư đó, thì nên để lại vào một dịp khác, mà chỉ nêu những câu hỏi liên quan tới cái giảng Kinh A Di Đà của Thầy mà thôi. Thì nếu bây giờ nhắc trước để anh em tự hạn chế bớt đi.

Bạn đạo: Dạ.

Bạn đạo: Chớ nếu bây giờ mà mình tự cúp anh em đó thì kể cũng là cái vấn đề đụng chạm nhiều,

Bạn đạo: Dạ.

Bạn đạo: Tôi sợ anh em giận, hơn nữa sáng nay Thầy giảng có hơi mệt, do dó chúng tôi có đề nghị Thầy giảng từ chín giờ tới mười giờ rưỡi, Thầy nghĩ nửa tiếng; rồi mười một giờ Thầy tiếp tục giảng lại tới mười một giờ năm mươi, rồi Thầy nghĩ mười phút. Rồi trong thời gian Thầy nghĩ đó, tôi cũng kính xin quý anh chị nên tự chế mà để cho Thầy nghĩ cho nó thông thả. Còn nếu Thầy đã nghĩ rồi mà mình còn gần gũi Thầy, rồi hỏi này kia nọ nữa, thì cũng bận bịu Thầy lắm, cái điều này thì tôi cũng nêu lên như vậy để mình tự mình ý thức, để giúp cho Thầy có dịp để nghĩ ngơi và Thầy suy nghĩ thêm nữa trong cái chương trình sắp tới. Còn nếu bận bịu hỏi chuyện này chuyện kia đó, đôi khi quấy rầy cái phần tâm thức của Thầy, mà không có lợi cho cái khóa giảng kinh của mình được hưởng cái hồng ân của Thầy ban cho.

Bạn đạo: Trong nữa giờ Thầy nghỉ, tôi đề nghị anh Hữu đưa Thầy lên phòng; rồi Thầy trở xuống; như vậy khỏi ai hỏi gì hết.

Bạn đạo: Tôi có ý kiến: trong cái khóa học của mình, là mình khó phân biệt được cái người nào chính thức học ở cái khóa này và người ở bên ngoài vào. Do đó tôi đề nghị thế này: người nào làm được, làm một cái bảng tên rõ rang, tại vì những người chính thức học cái này sẽ mang ở trước ngực đây.

Bạn đạo: Cái này bạn bè rỉ tai nhau được, những người nào mà người ta không học thì tôi đề nghị. Tôi rất đồng ý vì mình biết ở đây là mình ở nội trú, thì trước khi mình vào đây là mình biết kẹt một tiếng rưỡi, thì lo bản thân mình trước đi. Rồi ngồi tới đúng giờ là ra thôi, không có ra vô nữa; và khi đóng cửa rồi á, thì người nào tới rồi thì ở ngoài nghe thôi, không có cho vô nữa. Thì ở đây mình nội trú, tới giờ là mình đóng cửa! Ngày mai mình viết giấy. Mình học, phải có kỷ luật, và mình phải nghiêm nhặt thì mình mới tiến bộ được.

Không, nhưng mà người ta vô từ đầu, không có làm mất trật tự của mình thì tốt thôi.

Bạn đạo: Thật ra cái việc này, ở Sydney thầy có nói rõ với anh em đó, là những người nào mà thấy mình có thể phát tâm làm cán bộ cho tương lai thì dự cái khóa này. Thầy nói rõ như vậy, và cần cân nhắc xem, hỏi lại lòng mình đã. Do đó anh em Sydney, như chị Tranh biết đó, có cái hàng rào, mà cái hàng rào này Thầy nói thì anh em chấp nhận. Còn dưới Melbourne cái phương thức có lẽ chưa gặp Thầy, thành ra có những cái hơi trục trặc chút xíu. Nhưng mà do đó mình cũng có thể sửa lại.

Thì Thầy nói: những người nào tham dự khóa này, là “Những người đã có thực hành thiền rồi và mở nguyện làm cán bộ cho cái Pháp Lý trong những ngày về sau.” Nghĩa là dành bớt cái thời giờ thế gian đi mà dành nhiều thời giờ lo đạo.

Bạn đạo: Khóa học này thì tôi nghĩ là bởi vì Thầy đã xác định đây là chơn kinh, đây là chánh kinh chớ, tức là nó là dẫn đường soi lối cho mình đó! Mà muốn cảm nhận và thâu thập được chánh kinh này thì mình phải có cái trình độ nào đó, tức là cái trình độ điển quang; tôi muốn nói trình độ điển quang. Chớ nếu mà chúng ta không có cái trình độ điển quang, thì chúng ta không có thể nhận được cái chánh kinh này. Mà đã nói đến điển quang thì coi như là “bất khả luận bàn,” tức là đưa vào “kinh vô tự” rồi. Thành ra chúng ta phải giới hạn, mặc dù Thầy nói phải đặt ra nhiều câu hỏi, nhưng mà chúng ta hãy xét lại, trước khi đặt câu hỏi thì chính mình hãy xét lại đi.

Chớ từ chiều tới giờ mình bàn những câu hỏi đó, thì tôi nghĩ là có mục đích là để giải trược mà thôi, chớ càng bàn thì nó đi càng xa. Mà nó chẳng có cái ích lợi gì! Ví dụ Thầy, cái trình độ Thầy giải đáp những câu hỏi đó cho mình, thì nó cũng không đi vào đâu, bởi vì cái trình độ mình không lãnh hội được thì nó cũng chẳng đi vào đâu. Cho nên tôi thấy là mặc dù những cái phần đưa ra hỏi đáp với nhau, tôi thấy là anh em mình hồi trưa tới giờ chưa có sân. Tức là từ sáng tới giờ bàn, nhưng mà chưa sân, tức là đã có một trình độ nào rồi, thành ra đó là cái điểm mừng.

Cho nên nhận thức Kinh A Di Đà, cũng như là anh em mình nóng lòng để mà học Kinh A Di Đà, tôi nghĩ là suốt đời học không hết mà! Thành ra trong một khóa giảng này lãnh hội một cái điều gì nhỏ nhặt trong Kinh A Di Đà mà chúng ta đủ thanh tịnh hoặc cảm nhận nó, thì chúng ta cũng đã lãnh được cái giềng mối để đi vào cõi đạo. Ở đây anh Phương đã nói thẳng ra và anh em ở đây có lẽ cũng cảm nhận được cái điều đó: thì chúng ta tự đặt kỷ luật cho mình, tự thanh tịnh để mà nắm lấy cái giềng mối đó mà đi. Đó là ý kiến riêng cá nhân của tôi.

Bạn đạo: Tôi đồng ý với Anh, anh Tân. Thì như vậy ai cũng cố gắng thanh tịnh để mà học. Nhưng mà mục tiêu của mình là phải học hết cuốn kinh này trong 10 ngày; phải không? Thành ra mình phải đặt tiêu chuẩn cho mỗi ngày như vậy. Còn vấn đề mỗi người đặt câu hỏi thì sao? Hôm qua đó, quý vị nghe lại băng đi. Thầy biểu: “Cứ việc đặt câu hỏi; có thì giờ là đặt câu hỏi; ruột gan gì phơi ra hết!” Thì bây giờ đặt câu hỏi thì mình mỏ xẻ, mình tu học với nhau là cứ việc đặt ra; rồi những câu mà mình đưa ra, câu coi tuy rằng rất là tầm thường, nhưng mà Thầy giải thích mình không hiểu được đâu.

Bạn đạo: Thật ra thì cái mối đạo thì nó là coi như vô giới hạn, là nó không có giới hạn, mà mình ở đây thật sự mình không có đủ trình độ để mà phán đoán coi câu hỏi đó nó có giá trị hay là không nữa! Mà một câu hỏi nào vô duyên, và nó không hợp thời, thì nó cũng có giá trị của nó; bởi vì câu hỏi không hợp thời mà chúng ta có thể chấp nhận, và chúng ta có thể thanh tịnh, và chúng ta có thể trách móc người đó không? Nếu chúng ta thanh tịnh, không trách móc, thì đó cũng là một bài học cho chúng ta rồi. Thành ra ở đây, theo ý kiến của chúng tôi, là chúng ta cố trở về mình, thanh tịnh, mặc ở ngoài nó xảy ra như thế nào. Cố gắng thanh tịnh để mà lãnh hội cái điển quang, cái điển kinh; đó là phần chánh. Còn kỷ luật này, nọ, bên ngoài, thì chắc có lẽ, đương nhiên là phải có, nhưng mà rất là khó. Có thể ở đây không ai dám nhận cái phần đó. Thành ra bây giờ, đương nhiên mình ráng giữ, ráng giữ đấy; nhưng mà nếu có cái chuyện gì xảy ra phật ý mình, không đúng với ý mình, thì mình ráng mà bỏ qua để mà dùng cái ý đó, thanh tịnh để mà lãnh hội cái kinh điển.

Bạn đạo: Tôi xin góp ý kiến với anh Tân. Cái điều anh Tân nói rất là có ý nghĩa. Mình phải giữ thanh tịnh. Nhưng mà đã tổ chức một lớp học thì phải có kỷ luật, để, từ trong kỷ luật đó, mình mới, nó mới tạo cái hoàn cảnh để mình học kịp cái chương trình, hay là đi kịp thời giờ, tranh thủ thời giờ. Thì, như chị Tranh đã nói, thì những người nào ghi tên mới được vào thụ huấn, bởi vì đây là cái khóa dạy đặc biệt. Đây không phải là cái lúc mà Thầy đến thiền đường Thầy giảng, thành ra ai muốn vô thì vô. Cho nên chỉ những người nào thụ huấn, ghi tên, thì mới được vô dự khóa này. Thì chị Tranh đã nói có khả năng ngăn cản cái chuyện đó ngày mai, thì tôi thấy chắc không có gì trở ngại mà sợ mích lòng cái chuyện đó đâu.

[kết thúc ID# 19860101Q8]

[ID # 19860106Q5]

Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Bạn Đạo Thực Tập Truyền Pháp - Vấn Đạo - Cuốn 18A

BĐ1: Anh trả lời có hơi vắn tắt thành ra em cũng vẫn chưa hiểu mấy đâu Anh Muôn, là những cái điều mà Anh nói là “Điều thiện”, còn những cái điều mà Đức Thiên Tôn đề cập là “Đức thiện”, “Đức thiện” rõ ràng trong đây tôi có sách. Dạ, nếu có thể thì thôi để hỏi các Anh Chị khác, tôi xin phép cảm ơn buổi hôm nay.

BĐ2: Xin cám ơn Anh! lên đây cũng nhắc nhở và dạy cho tôi học những điều hay.

BĐ3: Kính thưa anh Muôn, được nghe nói Anh tu thiền lâu năm, tôi xin muốn được hỏi Anh: “Thiền” là cái gì?

BĐ2: Dạ, theo tôi nghĩ, thiền là định, định là ổn định cho thần kinh để mà mình tu Tâm; thì Anh muốn hỏi như vậy với mục đích đến đây… thói quen của tôi là tôi ở thiền đường gặp một bạn đạo nào đến tôi chăng nữa thì tôi có cuốn sách, một cuốn sách tôi kèm theo đó trước khi hướng dẫn một bạn đạo đó, và với một bạn đạo đó đến với mục đích vì nếu muốn thực sự hành thiền thì tôi có một cuốn sách đưa cho về đọc trước; và nếu muốn thực hành thiền thì đến tôi chỉ thực hành thực hành cho thấy và về đó mà hành. Vì theo cái pháp này chỉ hành mới thấy và mới hiểu, mới rõ hơn; còn về mà lý luận, lý thuyết thì tôi cũng có những đàn anh để mà trả lời cho Anh những câu hỏi đó, sẽ lần lần tới Anh.

BĐ3: Dạ, thưa Anh, có lẽ Anh hiểu lầm cái thiện ý của tôi; bởi vì hồi xưa đến giờ tôi là người vô đạo, tôi không có cái đạo nào hết á, thành ra tôi nghe tới thiền, tôi nghe đồn là ông Tám, ông thiền sư đó ổng giỏi lắm, thành ra nhiều khi tôi cũng muốn được học hỏi. Nhưng mà tôi không hiểu cái chữ “Thiền” là cái gì? và tại sao mình phải thiền? thành ra bữa nay tôi mới mạo muội, được biết Anh thiền lâu năm mới hỏi Anh thiền là cái gì? tôi biết nó tôi mới thực hành chớ bây giờ tôi không biết nó là cái gì thì tôi thiền, hay là tôi thực hành làm chi. Thành ra cái thiện ý của tôi đến để mà tôi xin học học, chớ không phải tôi chọc Anh đâu.

BĐ2: Theo cái chuyện thiền tôi thấy, tôi thực hành thì thấy cái nghĩa thiền có nghĩa là định, định là định Tâm. Nếu mà muốn định tâm thì phải hành, hành nó mới ra những điều đó.

BĐ3: Tôi thấy cái câu này chắc cũng hơi khó, có lẽ là thôi, có thể mượn Anh cuốn sách về để nghiên cứu thêm.

BĐ2: Dạ, tôi cũng vui lòng kính tặng Anh quyển sách, rồi Anh nghiên cứu kĩ đi nếu mà Anh thấy thích hợp thì sẽ đến gặp tôi, chỉ.

BĐ4: Thưa Anh Muôn, nghe nói pháp này hay, nhưng mà tôi muốn hành cái pháp này, nhưng mà nghe thường thường nói là tu thì phải ly gia cắt ái. Nhưng mà tôi có vợ con vậy, có thể là cái nghĩa ly gia cắt ái tôi bỏ nhà ra đi để tu hay là ly gia cắt ái như thế nào? xin Anh cho biết để tôi có thể là tu tập thiền chớ nếu mà bây giờ trường hợp mà tôi bỏ vợ mà đi tu thì cũng kẹt lắm. Tại vì mình không biết làm sao giải quyết, xin Anh góp ý dùm.

BĐ2: Thì cái nghĩa ly gia cắt ái nó cũng hơi rộng nghĩa. Tu mà Anh theo cái nghĩa bên nay là đời đạo song tu, có nghĩa là Anh ở nhà Anh tu và Anh làm tròn nhiệm vụ của Anh, Anh mới có thể tu được; chớ còn ly gia cắt ái, cái nghiệp Anh đã gây ra Anh đến với cái mục đích là Anh để giải nghiệp, mà nghiệp đã tu ra rồi Anh đã giải nghiệp mà Anh còn buông bỏ trong khi cái nghiệp Anh chưa làm tròn. Mà Anh đòi ly gia cắt ái cái chuyện đó là không có hợp với cái Pháp Lý Vô Vi bên nay.

BĐ4: Dạ, như vậy cái nghĩa ly gia cắt ái nghĩa là không có phải là hợp với bên nay?

BĐ2: Thì có lẽ là cái lý luận của tôi ít, tôi chỉ chú trọng vào cái chuyện thực hành. Thành ra Anh đến đây với mục đích là muốn thực hành là tôi sẽ chỉ, còn như tôi đã lặp lại cho Anh rõ, nếu mà cái lý thuyết nhiều mà không thực hành thì cái chuyện không đi đến đâu.

Tôi khi xưa, trước khi vào môn phái thiền này tôi cũng nhiều cái lập luận và lý thuyết, nhưng nghe và hỏi cái điều thắc mắc của Anh là cái điều tôi rất cảm thông nhưng có thể là tôi giải không nổi. Trên con đường tu học của tôi thì tôi vẫn còn tiếp tục tu và đang đi học hoài, các bạn đạo khác về những lý thuyết lập luận khá hơn có thể tôi giới thiệu giúp Anh điều đó, còn cái phần tôi thì chỉ qua vấn đề thực hành nếu Anh muốn.

BĐ4: Dạ, tại vì em cũng có gặp bạn đạo, nhưng mà cũng có cắt nghĩa là ly gia cắt ái. Nhưng mà cũng có thấy rằng ở trong chùa ly gia cắt ái là bỏ đi, còn cái này theo Pháp Lý Vô Vi thì nói là ly gia cắt ái là mình xuất Hồn, mình rời cái thể xác của mình. Tại vì mình chưa biết chắc chắn là đúng như vậy không, nên thành thử góp ý anh và góp ý mọi người nếu đúng như vậy thì em mới dám tu, biết không! còn không đúng thì em thấy tu khó quá! nên thành thử người ta nói là ly gia cắt ái là xuất Hồn mình đi ra khỏi cái thể xác của mình. Rồi cắt ái là mình dẹp bỏ những cái tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố. Thưa Anh, vậy có phải đúng không? thì nếu đúng như vậy thì chắc có lẽ tốt cho tụi em gặp cái pháp này lắm.

BĐ2: Dạ, thưa cái điều Anh lại, Anh chỉ dẫn tôi rất là thật thà, xin cám ơn cái điều đó thật ra đúng, có thể là tôi quên.

BĐ5: Con có xin xen vô chút xíu là chúng con có cái thắc mắc chung đó trong băng Thầy giảng, cũng như là qua cái điển bên trên xuống qua cái kì đại hội Paris đó; thì bên trên khuyên ráng cố gắng thiền thực hành rốt ráo để đạt tới Tâm Tâm Tương Ứng, thì chừng đó chúng ta có đủ mọi sáng suốt để giải quyết hết mọi vấn đề. Chẳng những Thế Gian mà cả ở trên Thượng Giới nữa, thì do đó các bạn đạo vì ảnh hưởng cái điều đó nên chỉ chú trọng nhiều về phần thực hành và mong được Kinh Vô Tự. Tuy nhiên còn có trường hợp nếu mà chỉ chú trọng thực hành không mà không hiểu được ít nhiều về lý thuyết thì cũng có phần trở ngại tại vì trình độ mình chưa đọc được Kinh Vô Tự thì xin Thầy cho biết rằng có nên đọc thêm Kinh Hữu Tự không?

ĐT: luôn luôn từ Hữu Vi đi tới Vô Vi, chúng ta mang cái xác phàm và bao nhiêu sự bận rộn kích động và phản động chúng ta mới chán chường, chán chường rồi bước đi đâu? bắt đầu đã đọc Kinh Vô Tự và thấy hành vi bất chánh của chúng ta. Chúng ta mới nhắm con mắt, câm cái mồm để dòm lại quá khứ của chính mình, đó là đọc kinh vô tự. Rồi chúng ta có tứ quan: mắt, mũi, tai, miệng, thì chúng ta phải tham khảo nơi Hữu Tự.

Việc làm hằng ngày gặp gỡ sự đối đãi và những kinh sách, những sự thành công của những vị đã đi trước gom góp để lại chỉ đường dẫn lối cho chúng ta tự tiến chớ không phải là trách nhiệm chúng ta tiến, để cho chúng ta tham khảo và tự tiến thì chúng ta mới dìu dắt được tứ quan bớt động loạn, bớt hướng ngoại, bớt tranh chấp. Nó mới thật sự về với chính nó, mà về với chính nó thì nó mới nghe được hơi thở của nó, và nó biết cái nguyên ý cả Càn Khôn Vũ Trụ, nó thấy nguyên khí cả Càn Khôn Vũ Trụ đang giúp đỡ cho tâm lẫn thân nó có cơ hội tiến hóa.

Thì cái phần tiến hóa đó nó càng ngày càng nung nấu thanh cực thanh hòa thanh, thì cái gì thành tựu ở bên trên? nhẹ làm trời nặng làm đất, tu gọt bỏ trần tâm mới thành Tiên Phật. Thì nếu mà chúng ta tương ứng với đường lối đó thì chúng ta với chư Tiên chư Phật đâu có xa cách, đứng trong cõi Tâm Tâm Tương Ứng. Nhưng mà cuộc hành trì phải hành, không hành thì không được, hành đời lẫn đạo, Hữu Vi tới Vô Vi; mà Hữu Vi còn chấp thì làm sao quán thông? Hữu Vi phải hòa tan với mọi trạng thái mới quán thông. Mà chúng ta còn chấp là không bao giờ quán thông, mà chưa quán thông thì làm sao đọc được Kinh Vô Tự.

Từ Hữu Vi cũng có thể tương ứng với Vô Vi được nếu chúng ta là quán thông; cho nên, chúng ta chủ trương Đời Đạo Song Tu, Nhẫn Hòa để thực hành cho kì được và hòa tan với mọi giới để thức Hồn mới về quê được. Cho nên, cái phương pháp đương hành và những lời giảng giải kể cả tất cả những kinh sách mà Vô Vi đang có và tất cả những tài liệu nhập xác xuống điển giáo tâm, xuống điển mà không làm phép để hoành hành, mị người tu, hiếp đáp người tu, hóa phép cho nó sợ, không; nhưng mà lấy cái lời giáo tâm là bề trên muốn tương ứng với chúng sanh mà chỉ chờ chúng sanh tự thanh lọc và tương ứng với bề trên.

Cho nên, chúng ta hiểu được điều này, cho nên vỏn vẹn phải giữ cái tâm là quan trọng. Mà cái tâm chúng ta phải hòa, Đời Đạo Song Tu mới có thể thực tiễn được Hữu Vi phải quán thông, Vô Vi phải tự thức trong thanh tịnh thì hai đường lối rõ ràng. Có ba pháp: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, tự giải lần lượt và sẽ đi đến.

BĐ5: Xin cám ơn Thầy, tiếp tục xin kính mời Bà Mười.

ĐT: Ai muốn hỏi điều chi đó?

BĐ6: Kính thưa Bà Mười, con theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Học này mà mới vô nghe nói gặp bà Mười, được biết bà Mười niệm Nam Mô A Di Đà Phật chứng được những cái gì nó huyền diệu của sáu chữ đó, xin bà Mười cho con biết để con học hỏi thêm.

BĐ7: Nhưng mà thường xuyên là lúc nào tôi cũng Niệm Phật đi, đứng, nằm, ngồi và ai có hữu sự gì thắc mắc lại nhờ tôi chuyện dữ, chuyện hiền, chuyện gì tôi cũng giải đáp hiền lành và giúp cho người trong cái tai qua nạn khỏi và sáu chữ Di Đà đó là thành… lúc nào tâm tâm niệm niệm.

Khi tôi ngồi thiền, tôi nhớ tới cái chuyện đời gì tôi cũng dẹp bỏ hết, tôi lo hành thiền và sáu chữ Di Đà. Xin Cô, Cô ráng trì chí có nhiêu đó và nhớ cái lời của ơn trên, Cha dạy và Thầy dạy, chớ tôi thì lý thuyết thì tôi cũng ít lắm, tôi không có hiểu cái chuyện đó. Tôi hành và tôi lo lắng cho cái công phu tôi nhiều hơn là cái chuyện đời, thành ra Cô… cái chuyện gì Cô bớt bớt đi, dẹp bỏ cái chuyện đời đi, đặng lo tâm mình niệm phật thường thì lúc nào cũng nhẹ nhàng và Phật cũng giúp cho mình được sáng suốt.

BĐ6: Dạ, thưa Bà Mười, muốn thử hỏi Bà Mười là trong khi Bà Mười niệm Nam Mô A Di Đà Phật đó, thì Bà Mười thấy có những cái ấn chứng gì trong tâm của Bà Mười. Con muốn thử hỏi Bà Mười có cái sự kết quả gì mà trong cái sáu chữ A Di Đà Phật đó mà Bà Mười cho con biết.

BĐ7: Dạ, thưa Cô, khi nào tôi Niệm Phật đó, thì trước khi tôi Niệm Phật là tôi tưởng tới Cha trước, tưởng tới Cha rồi tôi tưởng tới Phật; thì lúc nào tôi cũng niệm thì cái Tâm tôi cũng nghe nhẹ nhàng là trên đầu cũng rút nhiều quá Cô; rút là rút chớ mà tôi không có run, không có cái gì hết, mà sao Thầy cho con lên cho con nói sao con run con quá.

ĐT: Cứ nói đại, cứ nói đại, Lục Căn Lục Trần run chớ ý chí của Bà đâu có run, giữ bình Tâm Niệm Phật để độ tha.

BĐ7: Cô ráng đi Cô! Cô ráng Cô Niệm Phật nhiều, mà Tâm Cô lúc nào cũng tưởng hướng thượng về trên Trời, Cha Trời. Còn Niệm Phật thì lúc nào Cô lần lần Cô sẽ thấy hào quang ở trước mắt Cô một chút, rồi khi này một chút, khi kia một chút, thành ra nhiều chút. Chớ tôi thì tôi nói thiệt với Cô, tôi đi đứng nằm ngồi gì tôi cũng Niệm Phật mà hễ tôi Niệm Phật thì tôi nghe trên đầu tôi rút quá đi, rồi tôi ngồi cũng như tôi ngồi thiền. Thành ra, ban ngày lúc nào tôi rảnh rảng tôi lo công chuyện nhà, còn hễ lúc nào tôi khỏe thì lúc nào tôi cũng Niệm Phật, tôi đóng cửa tôi Niệm Phật hoài, Cô ơi.

Bạch Thầy năm tháng nay con nhờ hành cái pháp Niệm Phật mà con thấy con nhẹ nhàng và con sáng suốt.

ĐT: Ừ.

BĐ7: Mô Phật, bạch Thầy, nhờ vậy mà con khi ban đêm con ngủ thiền con ngủ quên con không hay, Thầy.

ĐT: Ừ

BĐ7: Con ngồi rồi không có xả thiền, con ngồi con ngủ luôn.

ĐT: Ừ.

BĐ7: Mà con ngủ con không có gục hay gì hết, tự nhiên ngồi vậy, sáng ra nó cũng tự nhiên nó không có tê, không có gì. Mà giật mình thức dậy thì con thấy 5 giờ sáng.

BĐ6: Dạ, thưa Bà Mười, thôi con cũng nghe theo Bà Mười đặng ráng về con Niệm Phật để con đạt được sự thanh tịnh. Con xin cám ơn Bà Mười!

ĐT: Để cho bớt động loạn dụng ý Niệm Phật quy nguyên khí, hòa hợp Thanh Giới thì triền miên học đạo, Tâm Không vô chấp, Tâm vô ngại.

BĐ7: Mô Phật, lạy Thầy, sao con cái đau con mà con không có đau nhiều.

ĐT: Dạ.

BĐ7: Mà sao con làm như là có Cha Mẹ, ơn trên ban cho con. Hễ khi nào mà con muốn đi đâu là con đau, Thầy; còn con ở nhà con không có đau gì hết, thành ra con có tội nói láo không Thầy.

ĐT: Không, bởi vì bề trên chuyển cho Bác ở nhà lo tu, không có muốn đi đây đi đó làm chi, thấy không?

BĐ7: Mô Phật.

ĐT: Trở về với thanh tịnh, bởi vì mình nguyện đi chầu Phật thì phải về thanh tịnh.

BĐ7: Bạch Thầy, con thấy con con nó…, giả tỷ ở nhà nó bê bối con có cái tình thương con qua con dọn dẹp, con lo giúp nó, cái con về con đau, Thầy.

ĐT: Không cần thiết, ở nhà Niệm Phật là giúp nó đó, vì Bác lớn tuổi rồi biết tu thì cái thanh quan chiếu xuống thì nó cũng ở trong cái dây của cửu huyền thất tổ không cần phải động tới tay chân. Càng NIỆM PHẬT nhiều nghiệp giải, giải nghiệp rồi thì người ta sẽ hầu hạ chớ không phải là mình hầu hạ người ta nữa, hết rồi, hiểu không?

BĐ7: Mô Phật.

ĐT: Không phải đi ngược dòng được, khi mà bề trên làm như vậy là muốn bắt ngồi yên một chỗ để lo tu, thấy không? thì tới lúc đó rồi nó sẽ thay đổi, kêu bằng giải lần lần cái nghiệp Tâm.

BĐ7: Bạch Thầy, bây giờ con hết muốn đi ra ngoài.

ĐT: Dạ.

BĐ7: Mà con ở hoài trong nhà hoài con sợ quá!

ĐT: Sợ làm sao?

BĐ7: khi không có cái gió con khó chịu, cái nhà con có chút xíu à Thầy.

ĐT: Ừ

BĐ7: Mô Phật, thành ra con ở trong nhà hoài con sợ kẹt, mà mở cửa ra thì con… bạch Thầy, con thấy sao cái gì nó cũng hôi trong lỗ mũi con hết, Thầy.

ĐT: Ừ, cái thanh điển của bề trên quan trọng hơn! lo Niệm Phật đi, rồi đi tới lần lần.

BĐ7: Bạch Thầy, lúc trước con đau tim, con cứ mệt mỏi hoài. Từ con vô cái pháp của Thầy tới giờ con không biết con hết hồi nào, con không hay. Bây giờ sức khỏe con dồi dào.

ĐT: Nó mở ra, cũng như hoa sen mở dâng trời thì bên trên phải quang chiếu. Thì lúc nào cái tâm cũng thanh nhẹ đó là hào quang của Đức Di Đà, cứ lo thành tâm hướng thượng chỉ có một con đường đó thôi. Duy nhất là giải thoát, nay được thanh nhẹ thì có cơ hội giải thoát.

BĐ7: Mô Phật, bạch Thầy, mà sao con luôn luôn, hễ con Niệm Phật là cái đầu con rút hoài, vậy có sao không?

ĐT: Thì cứ việc rút, cứ cho nó rút, để mình đi mà, ở lại đây làm gì.

BĐ7: Mô Phật, con đội ơn Thầy. Con chí quyết lắm Thầy ơi! con sợ thế gian này quá!

ĐT: Có ở lại đây để làm gì, còn muốn ở lại thì phải có nhiệm vụ để độ đời.

BĐ7: Bạch Thầy, con chỉ muốn con về.

ĐT: Tương lai bề trên sẽ sắp đặt, nếu chí quyết về là thôi. Bên trên người ta sửa soạn cho mình có cơ hội chầu Phật. Cho nên, Vô Vi giá trị tu học nó vậy, lần lượt phải bỏ hết tất cả những cái gì mà có thể ghi vào Tâm. Cái này khi bắt thiền rồi nó không còn cái gì dính líu hết, hỏi chớ mấy tiếng đồng hồ đi đâu? không biết, cái gì cũng không, đạt được chữ “Không” mới thấy Đạo, hiểu không?

BĐ7: Mô Phật.

ĐT: Mà người ta, người thường kêu họ ngồi mấy tiếng đồng hồ như vậy được không? không, nó bày chuyện này, bày chuyện kia, chớ họ ngồi như vậy không được. Mà mình ngồi như vậy được là bề trên đã chiếu cố, cố gắng giữ thanh tịnh và phát ra một đại nguyện tận độ chúng sanh.

BĐ7: Mô Phật, đội ơn Thầy ban cho con những lời minh triết, con minh tâm sáng kiến đặng con tu con giải thoát luôn.

ĐT: Xác Bác già, Bác càng tu thì hồn càng trẻ chớ không phải già nửa đâu; đừng có chấp ở trong cái già mà kẹt. Xác này cũng như cây cổ thụ, Hồn ta trong lành trẻ trung, có ai muốn hỏi Bác cái gì? lên đi.

BĐ5: Dạ, xin mời Chị Nga, Võ Thị Nga Sydney.

BĐ8: Thưa Huynh, thưa Tỉ, thưa Cô, thưa Bác, có điều chi thắc mắc về phương pháp Vô Vi Khoa Học Huyền Bí, tôi cũng là người mới thực hành cách đây một năm mấy, biết sao nói vậy.

ĐT: Chị Yến lên hỏi đi, không biết đạo phải lên hỏi đạo chớ.

BĐ9: Dạ, thưa Chị, tôi tên Yến ở Sydney. Dạ, tôi thật tình thì tôi không có thông suốt hết cái phương pháp này đâu chị. Mà tôi thích, tôi thích làm việc giúp người ta hơn là tôi thích ngồi một chỗ theo cái quan niệm tôi như vậy để hành cái pháp này. Nhưng mà tôi được có cái may mắn đọc qua cái cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý tức là Tôi Tầm Đạo số 7, thì tôi thấy rất là hay và tôi cũng ngang bướng lắm.

Tôi thấy hay nhưng mà tôi cũng không phục tùng lắm, tại vì tôi thấy ở trong đó nó có nhiều cái nó có vẻ mơ hồ tức là tôi người thực tế. Tôi thích cái gì mà nhìn thấy tôi mới tin và sau những thời giờ rảnh rổi tôi cũng hiếu kì, lấy được vài cuốn về thiền thực hành thì tôi coi rồi tôi cũng làm chơi chơi vậy đó, thì tôi thấy nó đó có một cái tác dụng vào tôi đó, về phần tâm linh hay gì tôi không thấy gì hết nhưng mà tôi thấy về sức khỏe tôi rất là tốt.

Sau những ngày tôi đi làm mệt mỏi, tôi làm suốt ngày và tôi có đủ sức khỏe để nói rất là nhiều mà tôi không mệt. À, khi mà tôi đi thăm một cái gia đình nào hay là tôi đi giúp đỡ ai gì đó, bởi vì tôi chạy xe đó, lái xe mà mắt tôi kém đó chị thì khi tôi đi một đoạn đường xa vậy tôi mệt dữ lắm. Nhưng mà thỉnh thoảng tôi ngồi tôi Soi Hồn là tôi thở Pháp Luân đồ đó, Chiếu Minh tôi rất là thường về Chiếu Minh đó, thì tôi thấy ngày sau nó có một cái tác dụng rõ rệt là tôi đi mà tôi không thấy mệt và tôi có một cái ý là tôi muốn tìm ra một cái chuyện khác để tôi đi nữa, tức là tôi muốn tạo ra công việc làm thêm nữa.

Thì Chị thấy như vậy là nó đủ cho tôi hay chưa? hay là tôi còn phải làm thêm những cái gì nữa? tại vì tôi thấy theo cái sự mà nghĩ về đời đó, tôi nghĩ là như vậy là nó đủ rồi. À, mình giúp đỡ mọi người; à, mình có sức khỏe như vậy là đủ, hay là mình còn phải làm, phải hành thêm như thế nào nữa về cái phương pháp này để cho nó có những cái ích lợi gì hơn không, hay là như thế nào xin Chị giải đáp dùm, cám ơn Chị!

BĐ8: Theo cái Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí này thì nó giúp ích cho về sức khỏe. Theo tôi thấy, chứng nghiệm với bản thân tôi thì trước kia tôi cũng là người bệnh hoạn, nhờ ngộ được cái pháp này mà bây giờ tôi thấy con người tôi khỏe mạnh và sau khi khỏe mạnh thì tôi có sức khỏe, tôi mới phụ giúp gia đình, chồng con. Đó là thực tiễn trong gia đình nhỏ bé của tôi, thì tôi thấy như vậy đó.

Còn ngoài xã hội thì nếu mà Chị nói rằng Chị giúp ích bạn bè này kia kia nọ đó là… cái đó là cái bản tánh mà con người của mình ai cũng có cái lòng nhân đạo hết, thì cái đó là bản tánh tự nhiên mà Cha đã sanh ra mình như vậy đó, đó là tôi nghĩ sao tôi nói vậy, tôi biết sao tôi biết sao tôi nói vậy. Còn về sức khỏe nếu mà chị cảm thấy dồi dào, chị kể đi giúp đỡ được người khác đó là cái điều tốt ở trong đường đạo cũng thế.

BĐ9: Dạ, em… Chị nói lại những lời em nói, em muốn hỏi là nó như vậy là đủ hay là mình phải tìm hiểu thêm, để mình học hỏi thêm. Tại vì em thấy em không có bệnh, em không có cần cái phương pháp này để trị bệnh. À, em không có… theo em, theo cái đời em nghĩ đó em như vậy giúp người ta như vậy đó là đủ rồi. Khi mà em hành về, rồi em tập sơ cái phương pháp này để mà làm cho em có sức khỏe thôi, như vậy là đủ hay chưa? hay là em phải cố gắng tìm hiểu thêm để em có những cái lợi lộc nào cho em và có những cái cơ duyên nào em giúp đỡ thêm nhiều người nữa hay là như thế nào em muốn hỏi điều đó, xin Chị trả lời dùm.

BĐ8: Dạ, theo cái pháp này thì trước hết là vì sức khỏe, rồi sau đó rồi sau đó về tâm linh. Mà Chị muốn người ta, Chị đã có đầy đủ sức khỏe thì Chị giúp về vật chất hay về tinh…về vật chất thì Chị có thể giúp đỡ mọi người; còn về tinh thần, cái phương pháp này có thể giúp đỡ về tinh thần, chẳng hạn như tôi lấy một cái thí dụ Chị gặp một người khổ sở cái hoàn cảnh khổ sở nào đó, chẳng hạn như gia đình lục đục hoặc là họ bị một cái trọng bệnh nào đó, Chị tới Chị an ủi hoặc là Chị chỉ cái cách thực hành theo Pháp Lý Vô Vi để có thể giúp đỡ họ về sức khỏe hoặc về tinh thần chị an ủi họ.

Không phải bỏ tiền bạc mới gọi là giúp đỡ họ, mà cái lời nói của mình cũng có thể giúp đỡ cho về tinh thần họ cảm thấy thoải mái, hay là họ tìm lại một cái ổn định tinh thần của họ. Mà trong cái lúc mà họ túng quẩn họ có thể suy nghĩ bậy hoặc là họ ý nghĩ quyên sinh này kia kia nọ, mình nói sao mà họ nghe có lý, thì cũng là một điều giúp đỡ.

BĐ9: Chị chưa đúng cái ý của em muốn hỏi. Bây giờ em xin lặp lại lần nữa, em muốn hỏi như thế này: là Chị nói khi mà mình có cái phương pháp này đó, thì mình tới mình giúp đỡ người ta mình nói về những cái thực hành về phương pháp. Em xin nói một ví dụ, cái vấn đề đó em làm rất là thường tại vì vấn đề đó là một cái công việc làm của em; thì coi như là khi mà em gặp một cái gia đình đó đó, mà người ta trouble, người ta có một cái chuyện khó khăn về gia đình, không bao giờ em lại em nói người ta thiền đâu. Tại vì khi mà cái chuyện đời người ta Chị chưa giải quyết được, Chị nói chuyện đạo người ta không có nghe, mà khi người ta nghe chị chuyện đạo xong chị nói chuyện đời lúc đó đó mới lọt vô chút chút thôi à.

Em muốn hỏi chị về vấn đề này là em có nghe cái phương pháp này và em có đọc được cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý tức là Tôi Tầm Đạo số 7, và theo cái hiếu kì của em em có đọc thêm một cuốn thiền thực hành, và trong công việc hằng ngày của em đó em có làm, mà em không có đi về phần tâm linh tức là em chỉ thực hành để cho em có cái sức khỏe. Như vậy nó đã đủ hay chưa? hay là em phải tìm hiểu thêm để mà… tại vì em muốn giúp nhiều người như vậy nó đủ hay là phải tìm hiểu thêm để mình có cái nhiều cái phần nào hay nữa, như chị đã thiền qua một năm ngoài thì Chị chỉ cho em để em biết. Nếu mà hay thì em sẽ theo, em chỉ hỏi bao nhiêu đó thôi.

BĐ8: Cái pháp này nó có hai cách cách thứ nhất là giúp cho mình về sức khỏe, cách thứ hai về phần tâm linh. Nếu mà Chị cảm thấy cái thế gian này không có hạnh phúc thì Chị tìm tới cái cách thứ hai là làm cho giải thoát cái mục tiêu của cái phương pháp này là cái cuối cùng là giải thoát cái tâm hồn của mình.

BĐ9: Dạ, cám ơn Chị! để hôm nào rảnh em lại gặp Chị sau ha, Dạ chào chị.

ĐT: Không chịu hả? nếu Chị không có tâm linh nãy giờ Chị hỏi cái gì đó? Chị đã có tâm linh Chị mới bằng lòng giúp mọi người, nhưng mà cái phần của Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí giúp cho Chị có sức khỏe, Chị thấy có hiệu nghiệm, chính Chị làm cho Chị. Rồi bây giờ chính Chị dấn thân vào xã hội để cứu độ chúng sanh đó là Chị đã có tâm linh. Rồi đường đi từ sức khỏe đi tới tâm linh phương pháp Vô Vi Khoa Học Huyền Bí có cái Thiền Định, trong một thời gian chị giúp đỡ mọi người trong hoàn cảnh đau khổ thiếu thốn, dẫn cho họ tiến trở về ổn định.

Khi mà Chị thấy rõ những cái hoàn cảnh đau khổ ở thế gian vì sự nhầm lẫn của mọi cá nhân mà tạo ra, thì lúc đó Chị học thêm về Pháp Luân Thường Chuyển và Thiền Định tại gia còn hơn là Chị đi ra ngoài mà không cứu được chúng sanh. Lúc đó Chị mới cảm thấy cái huyền diệu của Vô Vi và chính căn bản của Chị là độ tha, cứu người. Hành trình của Chị đang làm là cứu khổ ban vui, không khác gì pháp lý nhưng mà đi sâu đó phải dụng Hồn nhận nhiệm vụ thì còn làm nhiều cõi nữa.

Cho nên sự liên hệ của thể xác Chị đã chứng minh cho Chị biết rằng ba cõi: Thiên, Địa, Nhân Chị có phần, nhưng mà Chị mới có phần trong nhân quần trong thực hành chút chút chưa hết; rồi cố gắng làm nữa sẽ thực hiện Thiên Địa Nhân ba cõi thì cái đó là sự mong muốn của tâm linh của Chị, đó là căn bản phải phát triển ở tương lai thì không khác gì Vô Vi. Rồi đây Chị biết làm Soi Hồn, Chiếu Minh, rồi tương lai Chị cũng phải Pháp Luân, Thiền Định thì không có cái gì cần phải thêm. Nhưng mà trình độ tới Chị sẽ áp dụng, hiểu chưa?

BĐ9: Dạ, hiểu.

ĐT: Ok ( Đức Thầy và bạn đạo cùng cười)

BĐ10: Thưa Chị, nghe nói Chị hành thiền pháp Vô Vi này đã lâu, đem lại những sức khỏe. Tuy nhiên tôi nghe nói thiền thường hay bị điên hay tẩu hỏa nhập ma. Cái trường hợp đó có hay không? nếu xảy ra thì có cách nào để giải không?

BĐ8: Thưa, về pháp thiền thì theo như Thầy tôi dạy đó thì muốn thiền thì phải có minh sư dẫn dắt, mà minh sư dẫn dắt thì chỉ dạy rõ ràng đi theo đúng phương pháp thì không có gì trở ngại. Còn nếu hành giả hành sai hoặc là là sửa thì sai một ly đi một dặm, thành thử có thể bị tẩu hỏa nhập ma. Còn vấn đề tẩu hỏa nhập ma thì tôi không biết phải giải như thế nào hết, để tôi hỏi lại minh sư, chưa có kinh nghiệm.

ĐT: Cái trường hợp tẩu hỏa nhập ma là hành giả với tuổi trẻ thường bị. Vì mình thấy mình hít hơi vô mạnh quá, càng hít càng mạnh rồi thấy mình tung ra đây là ma quỷ mình đánh cũng tan, đó cái ý chí cái ác độc vẫn còn nuôi. Cho nên, càng hít càng sâu mà không chịu dọn về lối thoát, cho nên đây người ta kêu phải Soi Hồn trước mở bộ đầu đi.

Thượng Bất Chánh Hạ Tắc Loạn: bên trên không đàng hoàng thì ở dưới nó có làm gì nó cũng lộn xộn, cho nên mình phải cho cái bộ đầu khai mở, bộ đầu là lối thoát cho tất cả cơ tạng. Cho nên, bộ đầu định rồi, rồi ở bên dưới cái Hỏa Hầu lên nó mới có chỗ xuất thay vì nó làm bức trở lộn lại tẩu hỏa nhập ma điên khùng nói bậy, nhưng mà cái này xuất ra là ánh sáng hòa hợp với thanh giới tạo thành hào quang. Cũng hai cái xuất nhưng mà xuất lên không có lối thoát là tạo thành nó tẩu hỏa nhập ma loạn trí, mà lên có lối thoát rồi thì không có tẩu hỏa nhập ma. Cho nên, Pháp Lý Vô Vi đã ngừa những sự tẩu hỏa nhập ma và đặt nặng Soi Hồn trước, Pháp Luân sau Thiền Định chót.

Nhưng mà bây giờ còn ngừa thêm một lần nữa: Soi Hồn và Chiếu Minh trước cái đã, vì bản tánh của con người sân si dẫy đầy, nóng giận đủ thứ mà làm cho luồng điển không có thông suốt. Cho nên, bắt Soi Hồn rồi làm Chiếu Minh để nó giải bớt cái Hỏa Can và làm việc cho Ngũ Tạng điều hòa trước khi ngồi làm Pháp Luân, thì cái vụ tẩu hỏa nhập ma không còn nữa đối với những người thực hành đúng theo Pháp Lý Vô Vi.

Còn nếu bị tẩu hỏa nhập ma thì chỉ cho uống thuốc ngủ để rồi để cho nó quên cái ý chí của nó muốn trữ lực lượng để đánh đổ người ta, nó chỉ ngủ thời gian 15 ngày là nó quên hết, vậy là yên không có gì hết. Thì bây giờ Anh ngon, anh rũ có gì thắc mắc, có gì đằng sau có bổ túc, nếu không ai hỏi tôi xin đi tọa thiền ( bạn đạo cười), ơ vậy mình nói làm sao thì bây giờ chưa tới giờ ăn cơm mà. Phương đàn Huynh đi, đàn Huynh nói một câu đi.

BĐ11: Dạ, chào Anh.

BĐ12: Dạ, chào Chị Phương ạ, tôi được biết Chị Phương từ lâu rồi hành cái pháp Vô Vi này cũng lâu rồi thì đợt huynh xuống Melbourne. Tôi thì không có biết gì Vô Vi cả, cũng không biết đạo là cái gì nữa, hồi trước giờ đó thì tôi có đến chùa cũng có, nhà thờ cũng có nhưng mà tôi đều bất mãn tôi không có theo được. Tôi đó, là con người thành công, tôi có bằng cấp cao, tôi có vợ đẹp, tôi có con ngoan, có địa vị. Có thể nói là tất cả cái gì trên đời này có tôi đều có. Tôi rất happy, không có bi quan gì cả, tôi không có bệnh hoạn gì hết.

Thành ra, tánh tôi thì rất tò mò, mà tôi biết cái pháp Vô Vi này nó hay mà tôi không biết là có thể giúp gì cho tôi hay không? Vấn đề vật chất đó, thể chất của tôi thì rất là mạnh khỏe thành ra tôi không cần phải cái pháp nào mà làm cho tôi khỏe hết, tôi không cần; tôi muốn biết là có thể làm cho giúp tôi hơn nữa hay là không? chớ hiện tại tôi rất happy và tôi rất thành công mọi lãnh vực, cái gì tôi cũng đều có hết, dạ thưa xin vậy cũng đủ rồi,cám ơn Chị.

BĐ10: Dạ, thưa Anh, nếu mà gia đình của Anh hạnh phúc như vậy đó, nếu Anh vào cái phương pháp này đó thì nó sẽ giúp cho Anh và gia đình hạnh phúc hơn, và vì… nghĩa là nếu mà Anh vào pháp này ổn định tinh thần tìm được sự thanh tịnh thì Anh sẽ thấy là mình xét mình trước rồi thì mình mới thấy cái cách đối xử của mình đối với mọi người. Thành ra nếu mà Anh nghĩ là gia đình Anh hạnh phúc thì khi mà Anh hiểu Anh hơn, Anh sẽ cảm thông được những điều mà Chị nghĩ và những điều con Anh nghĩ, rồi từ đó tiến ra là Anh thông cảm được người ngoài trong xã hội. Thành ra, nếu mà Anh hiểu mình á thì rồi anh mới hiểu người được, Anh sửa mình trước rồi từ đó Anh mới cảm hóa được những người khác, thành ra nó tiến cho anh về cái mặt đó là Anh sẽ hạnh phúc hơn, Anh sẽ thương người hơn, hiểu người hơn.

[kết thúc ID# 19860106Q5]

ID#19860106Q5]

KHÓA HUẤN LUYỆN "KINH A DI ĐÀ" : Bạn Đạo Thực Tập Truyền Pháp - Vấn Đạo" - Cuốn 18A pp 69 - 79

BĐ1: Anh trả lời có hơi vắn tắt, thành ra em cũng vẫn chưa hiểu mấy đâu Anh Muôn, là những cái điều mà Anh nói là “Điều thiện”, còn những cái điều mà Đức Thiên Tôn đề cập là “Đức thiện”, “Đức thiện” rõ ràng trong đây tôi có sách. Dạ, nếu có thể thì thôi để hỏi các Anh Chị khác, tôi xin phép cảm ơn buổi hôm nay.

BĐ2: Xin cám ơn Anh! lên đây cũng nhắc nhở và dạy cho tôi học những điều hay.

BĐ3: Kính thưa anh Muôn, được nghe nói Anh tu thiền lâu năm, tôi xin muốn được hỏi Anh: “Thiền” là cái gì?

BĐ2: Dạ, theo tôi nghĩ, thiền là định, định là ổn định cho thần kinh để mà mình tu Tâm; thì Anh muốn hỏi như vậy với mục đích đến đây… thói quen của tôi là tôi ở thiền đường gặp một bạn đạo nào đến tôi chăng nữa thì tôi có cuốn sách, một cuốn sách tôi kèm theo đó trước khi hướng dẫn một bạn đạo đó, và với một bạn đạo đó đến với mục đích vì nếu muốn thực sự hành thiền thì tôi có một cuốn sách đưa cho về đọc trước; và nếu muốn thực hành thiền thì đến tôi chỉ thực hành thực hành cho thấy và về đó mà hành. Vì theo cái pháp này chỉ hành mới thấy và mới hiểu, mới rõ hơn; còn về mà lý luận, lý thuyết thì tôi cũng có những đàn anh để mà trả lời cho Anh những câu hỏi đó, sẽ lần lần tới Anh.

BĐ3: Dạ, thưa Anh, có lẽ Anh hiểu lầm cái thiện ý của tôi; bởi vì hồi xưa đến giờ tôi là người vô đạo, tôi không có cái đạo nào hết á, thành ra tôi nghe tới thiền, tôi nghe đồn là ông Tám, ông thiền sư đó ổng giỏi lắm, thành ra nhiều khi tôi cũng muốn được học hỏi. Nhưng mà tôi không hiểu cái chữ “Thiền” là cái gì? và tại sao mình phải thiền? thành ra bữa nay tôi mới mạo muội, được biết Anh thiền lâu năm mới hỏi Anh thiền là cái gì? tôi biết nó tôi mới thực hành chớ bây giờ tôi không biết nó là cái gì thì tôi thiền, hay là tôi thực hành làm chi. Thành ra cái thiện ý của tôi đến để mà tôi xin học học, chớ không phải tôi chọc Anh đâu.

BĐ2: Theo cái chuyện thiền tôi thấy, tôi thực hành thì thấy cái nghĩa thiền có nghĩa là định, định là định Tâm. Nếu mà muốn định tâm thì phải hành, hành nó mới ra những điều đó.

BĐ3: Tôi thấy cái câu này chắc cũng hơi khó, có lẽ là thôi, có thể mượn Anh cuốn sách về để nghiên cứu thêm.

BĐ2: Dạ, tôi cũng vui lòng kính tặng Anh quyển sách, rồi Anh nghiên cứu kĩ đi nếu mà Anh thấy thích hợp thì sẽ đến gặp tôi, chỉ.

BĐ4: Thưa Anh Muôn, nghe nói pháp này hay, nhưng mà tôi muốn hành cái pháp này, nhưng mà nghe thường thường nói là tu thì phải ly gia cắt ái. Nhưng mà tôi có vợ con vậy, có thể là cái nghĩa ly gia cắt ái tôi bỏ nhà ra đi để tu hay là ly gia cắt ái như thế nào? xin Anh cho biết để tôi có thể là tu tập thiền chớ nếu mà bây giờ trường hợp mà tôi bỏ vợ mà đi tu thì cũng kẹt lắm. Tại vì mình không biết làm sao giải quyết, xin Anh góp ý dùm.

BĐ2: Thì cái nghĩa ly gia cắt ái nó cũng hơi rộng nghĩa. Tu mà Anh theo cái nghĩa bên nay là đời đạo song tu, có nghĩa là Anh ở nhà Anh tu và Anh làm tròn nhiệm vụ của Anh, Anh mới có thể tu được; chớ còn ly gia cắt ái, cái nghiệp Anh đã gây ra Anh đến với cái mục đích là Anh để giải nghiệp, mà nghiệp đã tu ra rồi Anh đã giải nghiệp mà Anh còn buông bỏ trong khi cái nghiệp Anh chưa làm tròn. Mà Anh đòi ly gia cắt ái cái chuyện đó là không có hợp với cái Pháp Lý Vô Vi bên nay.

BĐ4: Dạ, như vậy cái nghĩa ly gia cắt ái nghĩa là không có phải là hợp với bên nay?

BĐ2: Thì có lẽ là cái lý luận của tôi ít, tôi chỉ chú trọng vào cái chuyện thực hành. Thành ra Anh đến đây với mục đích là muốn thực hành là tôi sẽ chỉ, còn như tôi đã lặp lại cho Anh rõ, nếu mà cái lý thuyết nhiều mà không thực hành thì cái chuyện không đi đến đâu.

Tôi khi xưa, trước khi vào môn phái thiền này tôi cũng nhiều cái lập luận và lý thuyết, nhưng nghe và hỏi cái điều thắc mắc của Anh là cái điều tôi rất cảm thông nhưng có thể là tôi giải không nổi. Trên con đường tu học của tôi thì tôi vẫn còn tiếp tục tu và đang đi học hoài, các bạn đạo khác về những lý thuyết lập luận khá hơn có thể tôi giới thiệu giúp Anh điều đó, còn cái phần tôi thì chỉ qua vấn đề thực hành nếu Anh muốn.

BĐ4: Dạ, tại vì em cũng có gặp bạn đạo, nhưng mà cũng có cắt nghĩa là ly gia cắt ái. Nhưng mà cũng có thấy rằng ở trong chùa ly gia cắt ái là bỏ đi, còn cái này theo Pháp Lý Vô Vi thì nói là ly gia cắt ái là mình xuất Hồn, mình rời cái thể xác của mình. Tại vì mình chưa biết chắc chắn là đúng như vậy không, nên thành thử góp ý anh và góp ý mọi người nếu đúng như vậy thì em mới dám tu, biết không! còn không đúng thì em thấy tu khó quá! nên thành thử người ta nói là ly gia cắt ái là xuất Hồn mình đi ra khỏi cái thể xác của mình. Rồi cắt ái là mình dẹp bỏ những cái tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố. Thưa Anh, vậy có phải đúng không? thì nếu đúng như vậy thì chắc có lẽ tốt cho tụi em gặp cái pháp này lắm.

BĐ2: Dạ, thưa cái điều Anh lại, Anh chỉ dẫn tôi rất là thật thà, xin cám ơn cái điều đó thật ra đúng, có thể là tôi quên.

BĐ5: Con có xin xen vô chút xíu là chúng con có cái thắc mắc chung đó trong băng Thầy giảng, cũng như là qua cái điển bên trên xuống qua cái kì đại hội Paris đó; thì bên trên khuyên ráng cố gắng thiền thực hành rốt ráo để đạt tới Tâm Tâm Tương Ứng, thì chừng đó chúng ta có đủ mọi sáng suốt để giải quyết hết mọi vấn đề. Chẳng những Thế Gian mà cả ở trên Thượng Giới nữa, thì do đó các bạn đạo vì ảnh hưởng cái điều đó nên chỉ chú trọng nhiều về phần thực hành và mong được Kinh Vô Tự. Tuy nhiên còn có trường hợp nếu mà chỉ chú trọng thực hành không mà không hiểu được ít nhiều về lý thuyết thì cũng có phần trở ngại tại vì trình độ mình chưa đọc được Kinh Vô Tự thì xin Thầy cho biết rằng có nên đọc thêm Kinh Hữu Tự không?

Đuc Thay: Luôn luôn từ Hữu Vi đi tới Vô Vi, chúng ta mang cái xác phàm và bao nhiêu sự bận rộn kích động và phản động chúng ta mới chán chường, chán chường rồi bước đi đâu? bắt đầu đã đọc Kinh Vô Tự và thấy hành vi bất chánh của chúng ta. Chúng ta mới nhắm con mắt, câm cái mồm để dòm lại quá khứ của chính mình, đó là đọc kinh vô tự. Rồi chúng ta có tứ quan: mắt, mũi, tai, miệng, thì chúng ta phải tham khảo nơi Hữu Tự.

Việc làm hằng ngày gặp gỡ sự đối đãi và những kinh sách, những sự thành công của những vị đã đi trước gom góp để lại chỉ đường dẫn lối cho chúng ta tự tiến chớ không phải là trách nhiệm chúng ta tiến, để cho chúng ta tham khảo và tự tiến thì chúng ta mới dìu dắt được tứ quan bớt động loạn, bớt hướng ngoại, bớt tranh chấp. Nó mới thật sự về với chính nó, mà về với chính nó thì nó mới nghe được hơi thở của nó, và nó biết cái nguyên ý cả Càn Khôn Vũ Trụ, nó thấy nguyên khí cả Càn Khôn Vũ Trụ đang giúp đỡ cho tâm lẫn thân nó có cơ hội tiến hóa.

Thì cái phần tiến hóa đó nó càng ngày càng nung nấu thanh cực thanh hòa thanh, thì cái gì thành tựu ở bên trên? nhẹ làm trời nặng làm đất, tu gọt bỏ trần tâm mới thành Tiên Phật. Thì nếu mà chúng ta tương ứng với đường lối đó thì chúng ta với chư Tiên chư Phật đâu có xa cách, đứng trong cõi Tâm Tâm Tương Ứng. Nhưng mà cuộc hành trì phải hành, không hành thì không được, hành đời lẫn đạo, Hữu Vi tới Vô Vi; mà Hữu Vi còn chấp thì làm sao quán thông? Hữu Vi phải hòa tan với mọi trạng thái mới quán thông. Mà chúng ta còn chấp là không bao giờ quán thông, mà chưa quán thông thì làm sao đọc được Kinh Vô Tự.

Từ Hữu Vi cũng có thể tương ứng với Vô Vi được nếu chúng ta là quán thông; cho nên, chúng ta chủ trương Đời Đạo Song Tu, Nhẫn Hòa để thực hành cho kì được và hòa tan với mọi giới để thức Hồn mới về quê được. Cho nên, cái phương pháp đương hành và những lời giảng giải kể cả tất cả những kinh sách mà Vô Vi đang có và tất cả những tài liệu nhập xác xuống điển giáo tâm, xuống điển mà không làm phép để hoành hành, mị người tu, hiếp đáp người tu, hóa phép cho nó sợ, không; nhưng mà lấy cái lời giáo tâm là bề trên muốn tương ứng với chúng sanh mà chỉ chờ chúng sanh tự thanh lọc và tương ứng với bề trên.

Cho nên, chúng ta hiểu được điều này, cho nên vỏn vẹn phải giữ cái tâm là quan trọng. Mà cái tâm chúng ta phải hòa, Đời Đạo Song Tu mới có thể thực tiễn được Hữu Vi phải quán thông, Vô Vi phải tự thức trong thanh tịnh thì hai đường lối rõ ràng. Có ba pháp: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, tự giải lần lượt và sẽ đi đến.

BĐ5: Xin cám ơn Thầy.

Tiếp tục xin kính mời Bà Mười.

Đuc Thay: Ai muốn hỏi điều chi đó?

BĐ6: Kính thưa Bà Mười, con theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Học này mà mới vô nghe nói gặp bà Mười, được biết bà Mười niệm Nam Mô A Di Đà Phật chứng được những cái gì nó huyền diệu của sáu chữ đó, xin bà Mười cho con biết để con học hỏi thêm.

BĐ7: Nhưng mà thường xuyên là lúc nào tôi cũng Niệm Phật đi, đứng, nằm, ngồi và ai có hữu sự gì thắc mắc lại nhờ tôi chuyện dữ, chuyện hiền, chuyện gì tôi cũng giải đáp hiền lành và giúp cho người trong cái tai qua nạn khỏi và sáu chữ Di Đà đó là thành… lúc nào tâm tâm niệm niệm.

Khi tôi ngồi thiền, tôi nhớ tới cái chuyện đời gì tôi cũng dẹp bỏ hết, tôi lo hành thiền và sáu chữ Di Đà. Xin Cô, Cô ráng trì chí có nhiêu đó và nhớ cái lời của ơn trên, Cha dạy và Thầy dạy, chớ tôi thì lý thuyết thì tôi cũng ít lắm, tôi không có hiểu cái chuyện đó. Tôi hành và tôi lo lắng cho cái công phu tôi nhiều hơn là cái chuyện đời, thành ra Cô… cái chuyện gì Cô bớt bớt đi, dẹp bỏ cái chuyện đời đi, đặng lo tâm mình niệm phật thường thì lúc nào cũng nhẹ nhàng và Phật cũng giúp cho mình được sáng suốt.

BĐ6: Dạ, thưa Bà Mười, muốn thử hỏi Bà Mười là trong khi Bà Mười niệm Nam Mô A Di Đà Phật đó, thì Bà Mười thấy có những cái ấn chứng gì trong tâm của Bà Mười. Con muốn thử hỏi Bà Mười có cái sự kết quả gì mà trong cái sáu chữ A Di Đà Phật đó mà Bà Mười cho con biết.

BĐ7: Dạ, thưa Cô, khi nào tôi Niệm Phật đó, thì trước khi tôi Niệm Phật là tôi tưởng tới Cha trước, tưởng tới Cha rồi tôi tưởng tới Phật; thì lúc nào tôi cũng niệm thì cái Tâm tôi cũng nghe nhẹ nhàng là trên đầu cũng rút nhiều quá Cô; rút là rút chớ mà tôi không có run, không có cái gì hết, mà sao Thầy cho con lên cho con nói sao con run con quá.

Đuc Thay: Cứ nói đại, cứ nói đại, Lục Căn Lục Trần run chớ ý chí của Bà đâu có run! Giữ bình Tâm Niệm Phật để độ tha.

BĐ7: Cô ráng đi Cô! Cô ráng Cô Niệm Phật nhiều, mà Tâm Cô lúc nào cũng tưởng hướng thượng về trên Trời, Cha Trời. Còn Niệm Phật thì lúc nào Cô lần lần Cô sẽ thấy hào quang ở trước mắt Cô một chút, rồi khi này một chút, khi kia một chút, thành ra nhiều chút. Chớ tôi thì tôi nói thiệt với Cô, tôi đi đứng nằm ngồi gì tôi cũng Niệm Phật mà hễ tôi Niệm Phật thì tôi nghe trên đầu tôi rút quá đi, rồi tôi ngồi cũng như tôi ngồi thiền. Thành ra, ban ngày lúc nào tôi rảnh rảng tôi lo công chuyện nhà, còn hễ lúc nào tôi khỏe thì lúc nào tôi cũng Niệm Phật, tôi đóng cửa tôi Niệm Phật hoài, Cô ơi.

Bạch Thầy năm tháng nay con nhờ hành cái pháp Niệm Phật mà con thấy con nhẹ nhàng và con sáng suốt.

Đuc Thay: Ừ.

BĐ7: Mô Phật, bạch Thầy, nhờ vậy mà con khi ban đêm con ngủ thiền con ngủ quên con không hay, Thầy.

Đuc Thay: Ừ

BĐ7: Con ngồi rồi không có xả thiền, con ngồi con ngủ luôn.

Đuc Thay: Ừ.

BĐ7: Mà con ngủ con không có gục hay gì hết, tự nhiên ngồi vậy, sáng ra nó cũng tự nhiên nó không có tê, không có gì. Mà giật mình thức dậy thì con thấy 5 giờ sáng.

BĐ6: Dạ, thưa Bà Mười, thôi con cũng nghe theo Bà Mười đặng ráng về con Niệm Phật để con đạt được sự thanh tịnh. Con xin cám ơn Bà Mười!

Đuc Thay: Để cho bớt động loạn dụng ý Niệm Phật quy nguyên khí, hòa hợp Thanh Giới thì triền miên học đạo, Tâm Không vô chấp, Tâm vô ngại.

BĐ7: Mô Phật, lạy Thầy, sao con cái đau con mà con không có đau nhiều.

Đuc Thay: Dạ.

BĐ7: Mà sao con làm như là có Cha Mẹ, ơn trên ban cho con. Hễ khi nào mà con muốn đi đâu là con đau, Thầy; còn con ở nhà con không có đau gì hết, thành ra con có tội nói láo không Thầy.

Đuc Thay: Không, bởi vì bề trên chuyển cho Bác ở nhà lo tu, không có muốn đi đây đi đó làm chi, thấy không?

BĐ7: Mô Phật.

Đuc Thay: Trở về với thanh tịnh, bởi vì mình nguyện đi chầu Phật thì phải về thanh tịnh.

BĐ7: Bạch Thầy, con thấy con con nó…, giả tỷ ở nhà nó bê bối con có cái tình thương con qua con dọn dẹp, con lo giúp nó, cái con về con đau, Thầy.

Đuc Thay: Không cần thiết, ở nhà Niệm Phật là giúp nó đó, vì Bác lớn tuổi rồi biết tu thì cái thanh quan chiếu xuống thì nó cũng ở trong cái dây của cửu huyền thất tổ không cần phải động tới tay chân. Càng NIỆM PHẬT nhiều nghiệp giải, giải nghiệp rồi thì người ta sẽ hầu hạ chớ không phải là mình hầu hạ người ta nữa, hết rồi, hiểu không?

BĐ7: Mô Phật.

Đuc Thay: Không phải đi ngược dòng được! Khi mà Bề Trên làm như vậy là muốn bắt ngồi yên một chỗ để lo tu; thấy không? thì tới lúc đó rồi nó sẽ thay đổi, kêu bằng giải lần lần cái nghiệp Tâm.

BĐ7: Bạch Thầy, bây giờ con hết muốn đi ra ngoài.

Đuc Thay: Dạ.

BĐ7: Mà con ở hoài trong nhà hoài con sợ quá!

Đuc Thay: Sợ làm sao?

BĐ7: khi không có cái gió con khó chịu, cái nhà con có chút xíu à Thầy.

Đuc Thay: Ừ

BĐ7: Mô Phật, thành ra con ở trong nhà hoài con sợ kẹt, mà mở cửa ra thì con… bạch Thầy, con thấy sao cái gì nó cũng hôi trong lỗ mũi con hết, Thầy.

Đuc Thay: Ừ, cái thanh điển của bề trên quan trọng hơn! lo Niệm Phật đi, rồi đi tới lần lần.

BĐ7: Bạch Thầy, lúc trước con đau tim, con cứ mệt mỏi hoài. Từ con vô cái pháp của Thầy tới giờ con không biết con hết hồi nào, con không hay. Bây giờ sức khỏe con dồi dào.

Đuc Thay: Nó mở ra, cũng như hoa sen mở dâng trời thì bên trên phải quang chiếu. Thì lúc nào cái tâm cũng thanh nhẹ đó là hào quang của Đức Di Đà, cứ lo thành tâm hướng thượng chỉ có một con đường đó thôi. Duy nhất là giải thoát, nay được thanh nhẹ thì có cơ hội giải thoát.

BĐ7: Mô Phật, bạch Thầy, mà sao con luôn luôn, hễ con Niệm Phật là cái đầu con rút hoài, vậy có sao không?

Đuc Thay: Thì cứ việc rút, cứ cho nó rút, để mình đi mà, ở lại đây làm gì.

BĐ7: Mô Phật, con đội ơn Thầy. Con chí quyết lắm Thầy ơi! con sợ thế gian này quá!

Đuc Thay: Có ở lại đây để làm gì? Còn muốn ở lại thì phải có nhiệm vụ để độ đời.

BĐ7: Bạch Thầy, con chỉ muốn con về.

Đuc Thay: Tương lai Bề Trên sẽ sắp đặt, nếu chí quyết về là thôi, Bên Trên người ta sửa soạn cho mình có cơ hội chầu Phật.

Cho nên, Vô Vi giá trị tu học nó vậy: lần lượt phải bỏ hết tất cả những cái gì mà có thể ghi vào Tâm. Cái này khi bắt thiền rồi nó không còn cái gì dính líu hết! Hỏi chớ, mấy tiếng đồng hồ đi đâu? Không biết! Cái gì cũng không, đạt được chữ “Không” mới thấy Đạo. Hiểu không?

BĐ7: Mô Phật.

Đuc Thay: Mà người ta, người thường kêu họ ngồi mấy tiếng đồng hồ như vậy được không? không, nó bày chuyện này, bày chuyện kia, chớ họ ngồi như vậy không được. Mà mình ngồi như vậy được là bề trên đã chiếu cố, cố gắng giữ thanh tịnh và phát ra một đại nguyện tận độ chúng sanh.

BĐ7: Mô Phật, đội ơn Thầy ban cho con những lời minh triết, con minh tâm sáng kiến đặng con tu con giải thoát luôn.

Đuc Thay: Xác Bác già, Bác càng tu thì hồn càng trẻ chớ không phải già nửa đâu; đừng có chấp ở trong cái già mà kẹt. Xác này cũng như cây cổ thụ, Hồn ta trong lành trẻ trung, có ai muốn hỏi Bác cái gì, lên đi.

BĐ5: Dạ, xin mời Chị Nga, Võ Thị Nga Sydney.

BĐ8: Thưa Huynh, thưa Tỉ, thưa Cô, thưa Bác, có điều chi thắc mắc về phương pháp Vô Vi Khoa Học Huyền Bí, tôi cũng là người mới thực hành cách đây một năm mấy, biết sao nói vậy.

Đuc Thay: Chị Yến lên hỏi đi! Không biết đạo phải lên hỏi đạo chớ.

BĐ9: Dạ, thưa Chị, tôi tên Yến, ở Sydney. Dạ, tôi thật tình thì tôi không có thông suốt hết cái phương pháp này đâu chị. Mà tôi thích, tôi thích làm việc giúp người ta hơn là tôi thích ngồi một chỗ theo cái quan niệm tôi như vậy để hành cái pháp này. Nhưng mà tôi được có cái may mắn đọc qua cái cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý tức là Tôi Tầm Đạo số 7, thì tôi thấy rất là hay và tôi cũng ngang bướng lắm.

Tôi thấy hay nhưng mà tôi cũng không phục tùng lắm, tại vì tôi thấy ở trong đó nó có nhiều cái nó có vẻ mơ hồ tức là tôi người thực tế. Tôi thích cái gì mà nhìn thấy tôi mới tin và sau những thời giờ rảnh rổi tôi cũng hiếu kì, lấy được vài cuốn về thiền thực hành thì tôi coi rồi tôi cũng làm chơi chơi vậy đó, thì tôi thấy nó đó có một cái tác dụng vào tôi đó, về phần tâm linh hay gì tôi không thấy gì hết nhưng mà tôi thấy về sức khỏe tôi rất là tốt.

Sau những ngày tôi đi làm mệt mỏi, tôi làm suốt ngày và tôi có đủ sức khỏe để nói rất là nhiều mà tôi không mệt. À, khi mà tôi đi thăm một cái gia đình nào hay là tôi đi giúp đỡ ai gì đó, bởi vì tôi chạy xe đó, lái xe mà mắt tôi kém đó chị thì khi tôi đi một đoạn đường xa vậy tôi mệt dữ lắm. Nhưng mà thỉnh thoảng tôi ngồi tôi Soi Hồn là tôi thở Pháp Luân đồ đó, Chiếu Minh tôi rất là thường về Chiếu Minh đó, thì tôi thấy ngày sau nó có một cái tác dụng rõ rệt là tôi đi mà tôi không thấy mệt và tôi có một cái ý là tôi muốn tìm ra một cái chuyện khác để tôi đi nữa, tức là tôi muốn tạo ra công việc làm thêm nữa.

Thì Chị thấy như vậy là nó đủ cho tôi hay chưa? hay là tôi còn phải làm thêm những cái gì nữa? tại vì tôi thấy theo cái sự mà nghĩ về đời đó, tôi nghĩ là như vậy là nó đủ rồi. À, mình giúp đỡ mọi người; à, mình có sức khỏe như vậy là đủ, hay là mình còn phải làm, phải hành thêm như thế nào nữa về cái phương pháp này để cho nó có những cái ích lợi gì hơn không, hay là như thế nào xin Chị giải đáp dùm, cám ơn Chị!

BĐ8: Theo cái Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí này thì nó giúp ích cho về sức khỏe. Theo tôi thấy, chứng nghiệm với bản thân tôi thì trước kia tôi cũng là người bệnh hoạn, nhờ ngộ được cái pháp này mà bây giờ tôi thấy con người tôi khỏe mạnh và sau khi khỏe mạnh thì tôi có sức khỏe, tôi mới phụ giúp gia đình, chồng con. Đó là thực tiễn trong gia đình nhỏ bé của tôi, thì tôi thấy như vậy đó.

Còn ngoài xã hội thì nếu mà Chị nói rằng Chị giúp ích bạn bè này kia kia nọ đó là… cái đó là cái bản tánh mà con người của mình ai cũng có cái lòng nhân đạo hết, thì cái đó là bản tánh tự nhiên mà Cha đã sanh ra mình như vậy đó, đó là tôi nghĩ sao tôi nói vậy, tôi biết sao tôi biết sao tôi nói vậy. Còn về sức khỏe nếu mà chị cảm thấy dồi dào, chị kể đi giúp đỡ được người khác đó là cái điều tốt ở trong đường đạo cũng thế.

BĐ9: Dạ, em… Chị nói lại những lời em nói, em muốn hỏi là nó như vậy là đủ hay là mình phải tìm hiểu thêm, để mình học hỏi thêm. Tại vì em thấy em không có bệnh, em không có cần cái phương pháp này để trị bệnh. À, em không có… theo em, theo cái đời em nghĩ đó em như vậy giúp người ta như vậy đó là đủ rồi. Khi mà em hành về, rồi em tập sơ cái phương pháp này để mà làm cho em có sức khỏe thôi, như vậy là đủ hay chưa? hay là em phải cố gắng tìm hiểu thêm để em có những cái lợi lộc nào cho em và có những cái cơ duyên nào em giúp đỡ thêm nhiều người nữa hay là như thế nào em muốn hỏi điều đó, xin Chị trả lời dùm.

BĐ8: Dạ, theo cái pháp này thì trước hết là vì sức khỏe, rồi sau đó rồi sau đó về tâm linh. Mà Chị muốn người ta, Chị đã có đầy đủ sức khỏe thì Chị giúp về vật chất hay về tinh…về vật chất thì Chị có thể giúp đỡ mọi người; còn về tinh thần, cái phương pháp này có thể giúp đỡ về tinh thần, chẳng hạn như tôi lấy một cái thí dụ Chị gặp một người khổ sở cái hoàn cảnh khổ sở nào đó, chẳng hạn như gia đình lục đục hoặc là họ bị một cái trọng bệnh nào đó, Chị tới Chị an ủi hoặc là Chị chỉ cái cách thực hành theo Pháp Lý Vô Vi để có thể giúp đỡ họ về sức khỏe hoặc về tinh thần chị an ủi họ.

Không phải bỏ tiền bạc mới gọi là giúp đỡ họ, mà cái lời nói của mình cũng có thể giúp đỡ cho về tinh thần họ cảm thấy thoải mái, hay là họ tìm lại một cái ổn định tinh thần của họ. Mà trong cái lúc mà họ túng quẩn họ có thể suy nghĩ bậy hoặc là họ ý nghĩ quyên sinh này kia kia nọ, mình nói sao mà họ nghe có lý, thì cũng là một điều giúp đỡ.

BĐ9: Chị chưa đúng cái ý của em muốn hỏi. Bây giờ em xin lặp lại lần nữa, em muốn hỏi như thế này: là Chị nói khi mà mình có cái phương pháp này đó, thì mình tới mình giúp đỡ người ta mình nói về những cái thực hành về phương pháp. Em xin nói một ví dụ, cái vấn đề đó em làm rất là thường tại vì vấn đề đó là một cái công việc làm của em; thì coi như là khi mà em gặp một cái gia đình đó đó, mà người ta trouble, người ta có một cái chuyện khó khăn về gia đình, không bao giờ em lại em nói người ta thiền đâu. Tại vì khi mà cái chuyện đời người ta Chị chưa giải quyết được, Chị nói chuyện đạo người ta không có nghe, mà khi người ta nghe chị chuyện đạo xong chị nói chuyện đời lúc đó đó mới lọt vô chút chút thôi à.

Em muốn hỏi chị về vấn đề này là em có nghe cái phương pháp này và em có đọc được cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý tức là Tôi Tầm Đạo số 7, và theo cái hiếu kì của em em có đọc thêm một cuốn thiền thực hành, và trong công việc hằng ngày của em đó em có làm, mà em không có đi về phần tâm linh tức là em chỉ thực hành để cho em có cái sức khỏe. Như vậy nó đã đủ hay chưa? hay là em phải tìm hiểu thêm để mà… tại vì em muốn giúp nhiều người như vậy nó đủ hay là phải tìm hiểu thêm để mình có cái nhiều cái phần nào hay nữa, như chị đã thiền qua một năm ngoài thì Chị chỉ cho em để em biết. Nếu mà hay thì em sẽ theo, em chỉ hỏi bao nhiêu đó thôi.

BĐ8: Cái pháp này nó có hai cách cách thứ nhất là giúp cho mình về sức khỏe, cách thứ hai về phần tâm linh. Nếu mà Chị cảm thấy cái thế gian này không có hạnh phúc thì Chị tìm tới cái cách thứ hai là làm cho giải thoát cái mục tiêu của cái phương pháp này là cái cuối cùng là giải thoát cái tâm hồn của mình.

BĐ9: Dạ, cám ơn Chị! để hôm nào rảnh em lại gặp Chị sau ha. Dạ chào Chị.

Đuc Thay: Không chịu hả? Nếu Chị không có tâm linh, nãy giờ Chị hỏi cái gì đó? Chị đã có tâm linh Chị mới bằng lòng giúp mọi người, nhưng mà cái phần của Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí giúp cho Chị có sức khỏe, Chị thấy có hiệu nghiệm, chính Chị làm cho Chị. Rồi bây giờ chính Chị dấn thân vào xã hội để cứu độ chúng sanh đó là Chị đã có tâm linh.

Rồi đường đi từ sức khỏe đi tới tâm linh, phương pháp Vô Vi Khoa Học Huyền Bí có cái Thiền Định, trong một thời gian chị giúp đỡ mọi người trong hoàn cảnh đau khổ thiếu thốn, dẫn cho họ tiến trở về ổn định.

Khi mà Chị thấy rõ những cái hoàn cảnh đau khổ ở thế gian vì sự nhầm lẫn của mọi cá nhân mà tạo ra, thì lúc đó Chị học thêm về Pháp Luân Thường Chuyển và Thiền Định tại gia còn hơn là Chị đi ra ngoài mà không cứu được chúng sanh. Lúc đó Chị mới cảm thấy cái huyền diệu của Vô Vi và chính căn bản của Chị là độ tha, cứu người. Hành trình của Chị đang làm là cứu khổ ban vui, không khác gì pháp lý nhưng mà đi sâu đó phải dụng Hồn nhận nhiệm vụ thì còn làm nhiều cõi nữa.

Cho nên sự liên hệ của thể xác Chị đã chứng minh cho Chị biết rằng ba cõi: Thiên, Địa, Nhân Chị có phần, nhưng mà Chị mới có phần trong nhân quần trong thực hành chút chút chưa hết; rồi cố gắng làm nữa sẽ thực hiện Thiên Địa Nhân ba cõi thì cái đó là sự mong muốn của tâm linh của Chị, đó là căn bản phải phát triển ở tương lai thì không khác gì Vô Vi. Rồi đây Chị biết làm Soi Hồn, Chiếu Minh, rồi tương lai Chị cũng phải Pháp Luân, Thiền Định thì không có cái gì cần phải thêm. Nhưng mà trình độ tới Chị sẽ áp dụng, hiểu chưa?

BĐ9: Dạ, hiểu.

ĐT: Ok! (Đức Thầy và bạn đạo cùng cười)

BĐ10: Thưa Chị, nghe nói Chị hành thiền pháp Vô Vi này đã lâu, đem lại những sức khỏe. Tuy nhiên tôi nghe nói thiền thường hay bị điên hay tẩu hỏa nhập ma. Cái trường hợp đó có hay không? nếu xảy ra thì có cách nào để giải không?

BĐ8: Thưa, về pháp thiền thì theo như Thầy tôi dạy đó thì muốn thiền thì phải có minh sư dẫn dắt, mà minh sư dẫn dắt thì chỉ dạy rõ ràng đi theo đúng phương pháp thì không có gì trở ngại. Còn nếu hành giả hành sai hoặc là là sửa thì sai một ly đi một dặm, thành thử có thể bị tẩu hỏa nhập ma. Còn vấn đề tẩu hỏa nhập ma thì tôi không biết phải giải như thế nào hết, để tôi hỏi lại minh sư, chưa có kinh nghiệm.

Đuc Thay: Cái trường hợp tẩu hỏa nhập ma là hành giả với tuổi trẻ thường bị, vì mình thấy mình hít hơi vô mạnh quá, càng hít càng mạnh rồi thấy mình tung ra đây là ma quỷ mình đánh cũng tan! Dó cái ý chí cái ác độc vẫn còn nuôi, cho nên càng hít càng sâu mà không chịu dọn về lối thoát!

Cho nên đây người ta kêu phải Soi Hồn trước, mở bộ đầu đi: Thượng Bất Chánh Hạ Tắc Loạn: bên trên không đàng hoàng thì ở dưới nó có làm gì nó cũng lộn xộn! Cho nên mình phải cho cái bộ đầu khai mở, bộ đầu là lối thoát cho tất cả cơ tạng. Cho nên, bộ đầu định rồi, rồi ở bên dưới cái Hỏa Hầu lên nó mới có chỗ xuất, thay vì nó làm bức trở lộn lại, tẩu hỏa nhập ma điên khùng nói bậy! Nhưng mà cái này xuất ra là ánh sáng hòa hợp với thanh giới tạo thành hào quang.

Cũng hai cái xuất, nhưng mà xuất lên không có lối thoát là tạo thành nó tẩu hỏa nhập ma loạn trí; mà lên có lối thoát rồi thì không có tẩu hỏa nhập ma.

Cho nên, Pháp Lý Vô Vi đã ngừa những sự tẩu hỏa nhập ma, và đặt nặng Soi Hồn trước, Pháp Luân sau, Thiền Định chót.

Nhưng mà bây giờ còn ngừa thêm một lần nữa: Soi Hồn và Chiếu Minh trước cái đã, vì bản tánh của con người sân si dẫy đầy, nóng giận đủ thứ, mà làm cho luồng điển không có thông suốt; cho nên, bắt Soi Hồn rồi làm Chiếu Minh để nó giải bớt cái Hỏa Can và làm việc cho Ngũ Tạng điều hòa trước khi ngồi làm Pháp Luân.

Thì cái vụ tẩu hỏa nhập ma không còn nữa đối với những người thực hành đúng theo Pháp Lý Vô Vi.

Còn nếu bị tẩu hỏa nhập ma thì chỉ cho uống thuốc ngủ để rồi để cho nó quên cái ý chí của nó muốn trữ lực lượng để đánh đổ người ta, nó chỉ ngủ thời gian 15 ngày là nó quên hết; vậy là yên không có gì hết. Thì bây giờ Anh ngon, anh rũ có gì thắc mắc, có gì đằng sau có bổ túc, nếu không ai hỏi tôi xin đi tọa thiền ( bạn đạo cười), ơ vậy mình nói làm sao thì bây giờ chưa tới giờ ăn cơm mà! Phương đàn Huynh đi, đàn Huynh nói một câu đi.

BĐ11: Dạ, chào Anh.

BĐ12: Dạ, chào Chị Phương ạ; tôi được biết Chị Phương từ lâu rồi hành cái pháp Vô Vi này cũng lâu rồi thì đợt huynh xuống Melbourne,tôi thì không có biết gì Vô Vi cả, cũng không biết đạo là cái gì nữa, hồi trước giờ đó thì tôi có đến chùa cũng có, nhà thờ cũng có, nhưng mà tôi đều bất mãn, tôi không có theo được. Tôi đó, là con người thành công, tôi có bằng cấp cao, tôi có vợ đẹp, tôi có con ngoan, có địa vị; có thể nói là tất cả cái gì trên đời này có, tôi đều có. Tôi rất happy, không có bi quan gì cả; tôi không có bệnh hoạn gì hết.

Thành ra, tánh tôi thì rất tò mò, mà tôi biết cái pháp Vô Vi này nó hay, mà tôi không biết là có thể giúp gì cho tôi, hay không?

Vấn đề vật chất đó, thể chất của tôi thì rất là mạnh khỏe, thành ra tôi không cần phải cái pháp nào mà làm cho tôi khỏe hết, tôi không cần!

Tôi muốn biết là có thể làm cho giúp tôi hơn nữa hay là không? Chớ hiện tại tôi rất happy và tôi rất thành công mọi lãnh vực, cái gì tôi cũng đều có hết! Dạ thưa xin vậy cũng đủ rồi; cám ơn Chị.

BĐ10: Dạ thưa Anh, nếu mà gia đình của Anh hạnh phúc như vậy đó, nếu Anh vào cái phương pháp này đó thì nó sẽ giúp cho Anh và gia đình hạnh phúc hơn, và vì… nghĩa là, nếu mà Anh vào pháp này ổn định tinh thần, tìm được sự thanh tịnh thì Anh sẽ thấy là mình xét mình trước, rồi thì mình mới thấy cái cách đối xử của mình đối với mọi người. Thành ra, nếu mà Anh nghĩ là gia đình Anh hạnh phúc, thì khi mà Anh hiểu Anh hơn, Anh sẽ cảm thông được những điều mà chị nghĩ và những điều con Anh nghĩ; rồi từ đó tiến ra là Anh thông cảm được người ngoài trong xã hội. Thành ra, nếu mà Anh hiểu mình á, thì rồi Anh mới hiểu người được; Anh sửa mình trước rồi từ đó Anh mới cảm hóa được những người khác, thành ra nó tiến cho Anh về cái mặt đó, là Anh sẽ hạnh phúc hơn, Anh sẽ thương người hơn, hiểu người hơn.

[end of audio ID#19860106Q5]


----
vovilibrary.net >>refresh...