00000000L24
Ngày 09 và 10/10/1987
Đức Thầy giảng:
Nãy giờ chúng ta đi dạo Thiên Đàng nghe thuyết pháp, nhưng sự lĩnh hội có bao nhiêu? Cho nên thời đại văn minh đã cho chúng ta có cơ hội thâu băng để nghe, để nghiệm, để xét, để truy, để tầm, để thức. Cho nên cái nguồn văn minh đem lại cho chúng ta, chúng ta sẽ tu nhanh hơn và rút ngắn thì giờ hơn và dễ tiến hơn, thấy rõ chỗ này! Vì chúng ta có phương tiện, ngày đêm các bạn ở trong cái chỗ tự do cũng như là tiên cảnh của thế gian, phương tiện gì cũng đầy đủ cho các bạn hết, chỉ có thiếu tu thôi. Tiền bạc có, quần áo dư, nhà cửa có, cái gì cũng có hết, chỉ có thiếu tu.
Nhưng mà những người tu đắc đạo đã cho tất cả tài liệu cho chúng ta biết, mà chúng ta không thực hành thì uổng một kiếp người. Phải bỏ công ra, phải nghiên cứu, phải truy tầm, phải thực hành mới tiến được. Còn nếu không chịu truy tầm, không chịu thực hành không bao giờ tiến.
- Tuy rằng lời nói rót vào tai mà tại sao chúng ta chứa không được?
- Vì tâm thức chúng ta chưa định, thiền chưa đúng lúc, thực hành pháp môn trì trệ, thành ra không có chỗ chứa.
Chớ thiệt là những người hiểu đạo nghe cái này là biết liền, mở liền, vì họ đã hành trong đó. Người có thực hành là phải biết liền, mình đã đến đâu, đi vào ngưỡng cửa nào, và nhiệm vụ của ta làm gì đây, nó rõ rệt. Còn người chưa tu phải nhờ cái này; cái này là một kho báu, quý báu vô cùng để tận độ chúng sanh, để mọi người có cơ hội tự thức tâm mà thấy rõ đường đi của chính mình; mà khi thấy rõ đường đi của chính mình là mình nhận được âm ba của Đại Hồn kêu gọi chúng ta trở về nguồn cội đó.
Chỉ ta trì trệ thôi! Nếu chúng ta kiên trì chấp nhận đi một con đường không hai thì chắc chắn chúng ta sẽ đến. Đừng đi nửa chừng, mới có mở một cái thức một chút thôi là chia rẽ, phân tâm, động loạn; lập nhóm này, bè nọ, rốt cuộc thì chuốc lấy cái gì? Chuốc lấy cái tội mà thôi. Cái tội ngu muội, tự cao, tự đắc và không có tiến tầm được. [02:18]
Cho nên phải trở về với thanh tịnh, phải ăn năn hối cải, phải tiếp tục trên hành trình và tự tu tự tiến, thì tới nơi nào cũng có Thần Tiên Thánh Phật ân độ hết. Đó! Cũng như Dương Sinh tới được cảnh đó thì có những vị người ta độ rồi, người ta tới người ta phân giải, những chuyện kỳ lạ mình hỏi họ sẵn sàng giải đáp.
Một người nào mà tới nhà chúng ta, chúng ta cũng vui vẻ chỉ dẫn những cái gì mà cần thiết họ muốn, huống hồ gì cảnh Trời là của chung. Mà nếu mà đạt được tâm đạo, mà cái tâm còn ích kỷ, đâu có phải Thiên Đàng đâu.
Cho nên chúng ta ở thế gian, chúng ta gom góp những cái tài liệu này và chúng ta thực hành như tâm những người ở Thiên Đàng, hỏi chớ chúng ta có xa họ không? Chúng ta liên hệ từ giờ phút khắc.
Cho nên, tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời. Trong một kiếp con người gặp bao nhiêu khó khăn, hòa tan trong khó, quán thông sự khó thì đâu có còn khó khổ nữa!
Cho nên ngày hôm nay các bạn đương ngồi tu thiền đó, mỗi đêm công phu này kia kia nọ, ở trong nó cũng than vãn lắm: Người ta đang thở bình thường mà nó bắt người ta thở tuốt luốt, khổ quá chừng, loạn hết trọi rồi bây giờ làm sao? Nó trách, nó trách chủ nhân ông.
Cũng như chúng ta trách Ông Trời, Ông Trời rơi tuyết là chúng ta trách rồi. Chúng ta không hiểu làm sao tuyết? “Tuyết, sao mà ác quá, cho tuyết nhiều quá làm sao đi làm kiếm cơm”. Thấy không? Nhưng mà Ông Trời có nắng, có mưa, có tuyết, đủ tứ quý để xây dựng sự tiến hóa. Mà sự kích động và phản động là giúp cho tâm linh trở về với chính nó mà nó không biết, nó lại oán Ông Trời. Đó! Cho nên muốn hiểu Ông Trời phải hiểu thời tiết. [04:00]
Từ bề ngoài cho ta có cặp mắt để nhìn bề ngoài mà xét bề trong. Cho lỗ tai để nghe chuyện bề ngoài mà xét bề trong. Cho miệng nói ra mà để lượng xét trình độ của chính mình chớ không phải xét trình độ của người ta. Xét được trình độ của chính mình thì huệ tâm khai, mới là thấy trình độ của đối phương.
Cho nên cái tự tu tự tiến này là không phải là không nhờ ở bên trên, vì chúng ta, ở bên trên đã ban phép lạ cho chúng ta có cái thân xác, có đầy đủ điều kiện để thức tâm và trở về với chính mình, đó là một phép lạ rồi. Mà chúng ta không hành thì chúng ta tới cõi đó, làm sao mà nhờ được người ta. Tới cõi đó thì tự nhiên có người ta độ cho chúng ta. Cho nên chúng ta phải tự tu tự tiến mới tới chỗ đó, còn ỷ lại mà chờ người ta móc mình đi hay kéo mình đi, cái chuyện đó là ma quỷ nó có thể móc kéo mình đi được. Nó có thể hiện thân, nó làm ông Tiên, ông Phật giả rồi nó rước mình, thành ra mình mất ý chí, mình mất sự sáng suốt, đó là kêu bằng lệ thuộc. Còn tự tu tự tiến không có lệ thuộc được. Mình phải đi, phải truy tầm, phải thức, phải giải, phải tiến, chính mình phải tự hành, chớ không phải là nhờ người ta hành giùm.
Cho nên ngày hôm nay các bạn nghe bất cứ tài liệu nào về tu học cũng nhắc các bạn phải tự hành. Các bạn đầy đủ duyên lành là một nguyên linh của cả Càn Khôn Vũ Trụ chứ không có thiếu sót gì hết. Rồi bây giờ nhìn lại cái hoàn cảnh thế gian trước mắt này không thiếu cái gì hết, chỉ thiếu có cái tu. Cho nên giữ tâm lo tu, thanh tịnh, rồi mọi người chúng ta sẽ gặp ở trong nơi thanh tịnh, vinh quang hơn, tốt đẹp hơn. Cũng như Dương Thiện Sinh mà gặp được những vị Tiên này, vị Tiên nọ. À, Thiên Tôn cũng gặp luôn. Là gì? Cái tâm của người muốn tận độ chúng sanh, tâm của người ngay thẳng, tâm của người khiêm tốn và cầu đạo, học đạo, thì nó mới tới chỗ đó. Còn tâm của người cống cao ngạo mạn, khinh thị, ngược ngạo thì người đó cũng sánh như hòn đá trên núi là cùng, chớ không làm gì hơn hết. [06:02]
Cho nên “Đạo Tâm” có giải thích rất rõ, các bạn nghe đây, rồi các bạn nghe lại “Đạo Tâm”. Cuốn kinh Đạo Tâm, người ta ngâm thơ cho mình nghe thôi nhưng mà người ta phân tách cũng là một nguyên ý đó. Cho nên ráng giữ tâm thanh sạch lo tu và lo truy nghiệm những cái gì mình đạt, thành quả mình đã đạt. Và ở trong nhịn nhục mới có sự thăng hoa. Nhịn nhục, là sáng suốt mới nhịn nhục, thanh tịnh mới nhịn nhục.
Cho nên mượn pháp để đem lại sự thanh tịnh, rồi thực hiện cái nhịn nhục thì tự nhiên thành đạo. Nhưng mà qua cái trớn đó nó khó lắm, nó kích thích, nó chọc, nó phá, rồi mình lấy cái luật của phàm trần mình đối chiếu cái luật thiên nhiên là trật rồi. Không có nghịch lại được, mình phải hòa để mình quán thông mình mới trở lại cái siêu nhiên được. Còn không hòa và quán thông không có trở lại với siêu nhiên được. Lấy cái cống cao ngạo mạn mà chống với cái thanh tịnh là chống không có được, không bao giờ chống được, chỉ tự trói buộc mình càng ngày càng chặt thêm và càng khổ thêm mà thôi.
Thành thật cám ơn sự hiện diện của các bạn. Tới giờ rồi! [07:08]
[Kết thúc buổ học ngày 09 tháng 10, 1987]
[Sang buổi học ngày 10 tháng 10, 1987]
Đức Thầy giảng:
Rồi ngày hôm qua chúng ta học một ngày đi tới cái chỗ vui vẻ, mọi người sao phát tâm dễ quá! Hồi trước kêu lên ca nghĩa là khó lắm, đi không được. Đó! Mình phải truy tầm, nhờ chỗ nào, chỗ nào, chỗ nào, chỗ nào… Nó giải rồi, rồi bây giờ mình hăng hái, mình nhảy lên mình hát, thấy không? Thấy nó vui vẻ, thấy mình thực tâm đóng góp, biết gì nói nấy, chơi cho nó vui. Đó là trong hòa khí.
Thì chúng ta học từ giai đoạn một để kiểm chứng, và thấy rõ rằng trong khóa học không phải là nhìn nơi Ông Thầy nhưng mà chính bạn đạo cũng là đóng góp. Và chính những chuyện kỳ cục, kỳ khôi, ô trược mà nó cũng giúp ta tiến. Đó! Những cái bánh xe, những chiếc xe sắp lật đổ, sắp tiêu tan nó lại cứu ta. Thấy rõ chưa? Cho nên mặt mày mọi người bữa nay là rất thanh, thơ thới trong cởi mở.
- Thì ngày hôm nay, ngày cuối cùng, và sẽ tới chỗ mãn khóa, thì chúng ta thế nào, chúng ta phải học cái gì?
- Gom hết thảy về tâm, tức là phải học cái chữ “Bi”. [08:18]
Chúng ta đã dự mỗi buổi sáng đi lên Thiên Đàng xem; những vị Tiên Phật mà không đặt nặng cái chữ “Bi” thì Ngài cũng không có chịu giải cho trần gian hiểu rõ những gì ở trên Thiên Đàng có. Bởi vì Ngài từ sự đau khổ của thế gian, sự bầm dập, trở ngại biết bao nhiêu lần Ngài mới được tiến hóa lên trên đó làm một vị Tiên. Ngài đã chán đời rồi, sự khó khăn vô cùng:
- “Tôi tu mà tôi có hại ai đâu mà chuyên môn bị người ta hại, bị người ta mắng, bị người ta chửi, bị người ta bỏ rơi, bị người ta coi tôi không ra gì hết. Mà trong lúc đó tôi lý thuyết tôi cũng vững lắm nhưng mà tôi xài không được. Rồi tới một ngày nào quá đau khổ rồi tôi mới trở về chơn tâm, lúc đó tôi mới bay bổng lên Thiên Đàng, té ra tôi phải buông bỏ tất cả những bản chất sân si, sự tăm tối, những cái hỏa ngục trong đó tôi phải thiêu hủy nó hết để tôi được thăng hoa đi lên”.
Cho nên những Ngài đó mới nói lại cho chúng ta nghe, cơ cấu này phải thấy sao, tu như cách nào để đạt đạo và thăng hoa bằng cách nào? Chỉ từ li từ tí trong thực hành của Người mà lại trao đổi cho chúng ta, chớ đáng lẽ Người không cần phải nói cho chúng ta.
- Mà ngày hôm nay chúng ta đứng ở đâu?
- Bây giờ thấy rõ chúng ta đứng trong vị trí của Ngài.
Trước kia Ngài làm người, ham danh, ham lợi, sung sướng, rồi đi tới đau khổ. Mà chúng ta mới đau khổ, chưa thấm thía, còn phải đau khổ nữa; Ngài còn đau khổ hơn chúng ta Ngài mới thăng hoa làm một vị Tiên. Còn chúng ta tu về Vô Vi, người nào cũng nói “Tôi muốn làm Ông Trời hết. Tôi hòa tan với Cha là tôi làm Ông Trời”, thì phải khổ hơn, khổ gấp triệu lần. Người được xưng danh là người được… và đứng vững trước bạn đạo Vô Vi là người đó cũng là cả triệu năm đau khổ, không phải là một năm đau khổ đâu. Một năm đau khổ không thấm thía nữa. Các bạn đây mà cũng còn có người cả trăm năm, cả mấy trăm năm, cả ngàn năm rồi mà chưa tiến hóa nổi đây.
À… Qua một cơ thanh lọc mà Thượng Đế nhìn nhận và cho hội nhập không phải là chuyện giỡn, không phải chuyện giỡn. [10:27]
Cho nên các bạn, nhân cái cơ hội này các bạn có tự do để truy tầm sự thanh tịnh và tự giải cái hỏa tâm của mình, rồi để mình trở về với cái nơi trú ngụ thanh tịnh, từ bi của mình ở đâu. Chứ hồi nào tới giờ tu không biết cái sự thanh tịnh, từ bi ở đâu… còn chấp, còn chấp, còn chấp trước, nghiệp còn, còn sân hận.
Thành ra chúng ta nhân những cái cơ hội này chúng ta thấy rõ rằng trong có mấy ngày vắn mà chúng ta ở trong mọi trạng thái được nhồi để tiến, mà thực tập ngay cả thân xác phàm đấu lý với nhau, cho tới chư Tiên mà báo cáo lại cho chúng ta biết, cũng những vị đó cũng ở trong cái chỗ đau khổ, mà lúc đó tâm tư các bạn cũng bị nhồi trong đó; khi nghe qua Thiên Đàng Du Ký tâm mình cũng bị nhồi trong đó, điêu luyện trong đó, thành ra càng ngày nó càng hùng dũng hơn, nó mạnh hơn.
Cho nên sau khi ra về, có gì nhồi, đập phá ta, ta nên dụng lượng từ bi. Không có lấy cái ý tranh chấp nữa, vì đây là phước đến với ta, lấy oán làm ân, giữ tâm thanh tịnh học hỏi tới vô cùng. Vì mục đích chúng ta tầm đạo không phải tầm đời; tầm đạo thì phải chấp nhận. Cái đời nó tan rã thì đạo nó mới thăng hoa.
Cũng như anh Kiều Nguyên Tá, trong thâm tâm thấy vậy chứ chấp nhận, cho nên anh sống khổ, sống khổ từ bao nhiêu ngày tháng mà đi theo Vô Vi đều khổ; mang tiếng, chửi mắng đủ thứ, kêu thằng này, thằng nọ… không có giá trị gì hết. Nhưng mà ngày hôm nay đi tới giai đoạn được nói chuyện với Đấng Cha Trời, giải tỏa phần hỏa tâm và bắt đầu học từ bi và sẽ thực hiện từ bi, chịu nhịn nhục tối đa để thăng hoa. Cái khổ đã nắm rồi, nắm được khổ, hòa tan trong khổ và nhịn nhục tối đa để pháp tướng nó phát khởi, rồi sau này chúng ta mới là tay nắm tay hòa với Đấng Cha Trời để tận độ chúng sanh.
Vì những người đã qua những cơn thử thách quá thì người không sợ sự thử thách của đời. Mà người xây dựng được cái tâm tận độ chúng sanh và khai mở đường tiến cho tất cả những người đau khổ, điều thứ nhất là người Việt Nam được khôi phục tâm hồn của họ và trở về một mảnh đất tự do rõ rệt nghìn năm không hoại nát. Cái điều này là do những người đó sau này phải làm.
Qua cơn điêu luyện khổ cực này mà luôn luôn lầm tưởng ta là sáng suốt, bây giờ đập bỏ cái đó để ta bước qua một lãnh vực chơn tâm thì lúc đó mới thấy rõ đường đi hơn.
Cho nên hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục dạo Thiên Đàng học hỏi thêm; còn một giờ, còn một phút, còn một khắc cũng phải học sự cao siêu đó và chấp nhận sự khổ hiện tại để tiến hóa ở ngày sau. [13:23]
HỒI CHÍN:
DẠO CUNG NGỌC HƯ - NGHE NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 3 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1979)
Nguyên thủy hư không hiệu lý thiên
Nguyên linh tụ khí pháp luân viên
Thiên Thần vạn Phật xuất vô cực
Nghịch lữ hồi đầu tạ tục duyên.
Nguồn cội vô vi vốn tính trời
Pháp luân linh khí luyện không ngơi
Muôn Thần ngàn Phật từ vô cực
Quán trọ hồi tâm mặc chuyện đời.
Đức Thầy giảng:
“Nguồn cội vô vi vốn tính trời”: Vô Vi vốn tính trời.
“Quán trọ hồi tâm mặc chuyện đời”: Đó! Chuyện đời tranh chấp vô lý chúng ta bỏ, câm cái mồm để xây dựng cái lượng từ bi ở bên trong.
Tế Phật: Người đời chỉ vì một chút lỡ trớn mà bị sẩy chân rớt xuống biển sâu hố thẳm khổ đau, khi ấy mới tha thiết muốn bay lên cõi Trời, song thực tế khi vươn mình nhảy chỉ cao được một vài thước, sở dĩ như thế là bởi sức hút của quả đất không cho phép vậy. Người đời tu đạo muốn thoát ly luân hồi ắt phải lìa bỏ lòng ham muốn vật chất ở cõi đời hình danh sắc tướng không thực này, bởi kẻ bị dòng đời ô trược cuốn hút, tâm họ si mê ngụp lặn trong đó. Khí trược giáng xuống ngưng đọng thành đất, nên dưới đất tự nhiên xuất hiện cảnh Địa Ngục khổ đau, còn cảnh dạo thăm của thầy trò mình ngược lại là cảnh thanh nhẹ cõi Trời, vậy Dương Sinh phải mau vứt bỏ tất cả các thứ còn dính dấp đi mới mong bay tới chốn Thần Tiên cõi Vô Cực được.
Dương Sinh: Ân sư dạy con phải “vứt bỏ” nhưng thưa con không rõ “vứt bỏ” gì?
Tế Phật: Vứt bỏ cái túi con đeo sau lưng cùng nỗi lo lắng gặp trở ngại trong lòng mình, phải quên hết những thứ đó, ngay cả thân mình cũng ném đại vào không trung, tuyệt đối không được đeo mang một chút gì, có như vậy thể xác mới thanh thoát nhẹ nhàng bay lên tới cõi Trời.
Dương Sinh: Ân sư dạy như vậy nhưng người đời làm sao vứt bỏ nổi những thứ đó?
Tế Phật: Mắt nhìn không ghi, tai nghe không chép thì tâm mới ngay thẳng không cong quẹo. Túi vứt bỏ, trở ngại vượt qua thì “huyết tâm” hóa thành “đạo tâm”, người ta mới mọc được đôi cánh, giống như mũi tên để có thể xông thẳng lên Trời. Còn nếu tâm cong như lưỡi câu, khi ném vào bể khổ lưỡi câu mắc phải gỗ chìm nổi ắt là nghiệp chướng tới, dầu Tiên Phật có muốn cứu vớt cũng chẳng được.
Dương Sinh: Cảm tạ ân sư đã dùng búa bổ để biến cải “tâm phàm” của con hóa “tâm thánh” hầu theo nổi gót ân sư bay tới cõi Thiên Đàng, lạy mừng ra mắt các đấng thánh thượng cao siêu.
Tế Phật: Ha ha, quả nhiên con đã hồi tâm đổi ý, giữ lòng ngay dạ thẳng thăng tiến Thiên Đàng. Mau lên đài sen, thầy trò mình sẽ cùng thưởng thức phong cảnh tươi sáng chốn Thiên Đàng để tiêu sầu giải muộn.
Dương Sinh: Thưa ân sư, quả đúng như vậy. Con đã sửa soạn xong, mời thầy lên đường.
Tế Phật: Dẫn trò ngoan cỡi đài sen lên cõi Đại La Thiên, càng tới chốn cao vời càng cảm thấy thân tâm phơi phới, việc đời có quan trọng mấy cũng gác bỏ qua bên, cắt đứt mọi ràng buộc lòng chẳng chút âu lo, tự nhiên về tới cõi Trời xưa. Bữa nay thầy trò mình tới cung Ngọc Hư lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn... Đã tới nơi, Dương Sinh mau xuống đài sen.
Dương Sinh: Bạch thầy, nhìn ánh hào quang lấp lánh, hai mắt mở không được, có lẽ con chịu không nổi.
Tế Phật: Cảnh thần tiên nơi cung Ngọc Thanh trừ những vị đắc đạo thánh thượng cao siêu, còn phàm nhân cùng thần linh bậc trung khó bề lên tới nổi. Bởi Ngọc Hư là suối nguồn đạo lớn, đạo khí vô biên vô tận, mạnh mẽ khó bề địch được, còn con là người trần, tuy có đạo lực song “lư hỏa” tức lò điển còn đục, nên tới thăm cảnh thần tiên Vô Cực hẳn là gặp nhiều trở ngại, thầy ban cho con viên thuốc linh đan này, uống mau đi để trợ giúp cho sức đạo mạnh lên.
Dương Sinh: Đa tạ ân sư, con uống xong linh đan lập tức nguyên thần tăng gấp bội, thân mình có thể tỏa sáng và con cảm thấy vừa tới đây ánh sáng mạnh biết là bao nhiêu thế mà biến thành êm dịu được ngay.
Tế Phật: Đó là phép dùng ánh sáng hòa cùng ánh sáng, dùng thần hợp với thần, kẻ tu tới mức phát được ánh sáng ắt là có thể cùng Tiên Phật dung hóa đạo lực.
Dương Sinh: Ngôi điện lớn đằng trước, phía trên có đề ba chữ “Ngọc Hư Cung” tức cung Ngọc Hư, hào quang lóa cả mắt, lầu gác lớn rộng, mây ngũ sắc phất phới bay, khí chính trực chất ngất, không biết có phải đây là điện của đức Thiên Tôn ngự không?
Tế Phật: Cung Ngọc Hư này còn gọi là cung Ngọc Thanh tức nơi đức Thiên Tôn ngự, chúng ta mau vào trong vái lạy ra mắt Ngài, không thể thất lễ.
Dương Sinh: Kính lạy ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, đệ tử là thánh bút Dương Thiện Sinh, phụng chỉ viết sách, bữa nay theo thầy tới cung Ngọc Hư vái lạy Ngài. Từ lâu con vốn ngưỡng mộ danh thánh Thiên Tôn, giờ đây được chiêm ngưỡng dung nhan đức thánh, quả thực là ba kiếp mới có được vinh hạnh này, kính xin đức Thiên Tôn ban lời vàng ngọc để chỉ rõ bến mê.
Nguyên Thủy Thiên Tôn: Tốt lành lắm thay, suối đạo Thánh Hiền Đường do tôi khai nguồn ánh sáng, ngày nay có được sự nghiệp huy hoàng tôi rất quý mến. Đạo lớn hóa sinh dùng lời chẳng diễn tả nổi nên tôi không nói, hãy nhìn theo hướng ngón tay tôi chỉ.
Dương Sinh: Con quá ngu si nên không hiểu nổi lời dạy của đức Thiên Tôn.
Thiên Tôn: Ngả đường phía trước dẫn thẳng tới căn nhà cũ của con. Nhìn theo tay thánh chỉ, con có thấy? có hiểu nổi không?
Dương Sinh: (Mỉm cười gật đầu). Thưa con hiểu, con hiểu.
Thiên Tôn: Chỉ cho con rõ bản tính chân thực của con. Đạo ở ngay trong đó, kẻ giác ngộ tự biết, kẻ mê muội dù có đuốc soi đường cũng chẳng thấy, bởi vì lòng khỉ ý ngựa nghiêng bên nọ ngả bên kia, cuối cùng bị rớt xuống âm phủ. Đạo lớn nguyên thủy tiên thiên ý nghĩa chỉ bao gồm có bấy nhiêu thôi, bấy nhiêu nhưng cũng đủ làm điên đầu người đời khiến chẳng thấu tỏ, thật đáng tiếc! đáng tiếc!
Dương Sinh: Cảm tạ những điều đức Thiên Tôn vừa chỉ dạy, con xin ghi nhớ.
Thiên Tôn: Khí duy nhứt của Vô Cực Hỗn Nguyên vốn là chân bản tính của 96 nguyên linh, song vì chúng sinh mê muội chẳng biết quay đầu hồi quang phản chiếu nhìn rõ chính mình, lại đi dòm ngó sự xấu tốt của kẻ khác từng giây từng phút, vì tâm thần hướng ngoại cho nên đã lìa xa đạo lớn Tiên Thiên Vô Cực. Bữa nay vì Dương Sinh mà truyền trao, vậy phải giữ kỹ lấy gốc tâm, gốc tính, gốc linh, có chuyên chú vào đó mới nắm được cái duy nhất, về được nguồn cội, có thể tự thâu khí trời đất nuôi dưỡng hạt mầm, trồng cây sinh quả. Tu đạo chẳng có chi là khó cả, chỉ cần ghi nhớ một câu này: “Hãy tự trách hỏi mình, khoan xét nét người” (Đa vấn tự kỷ, thiểu quản tha nhân) nếu được như vậy, bảo đảm đắc đạo, chắc chắn nên người, thành Tiên, thành Phật.
Dương Sinh: Lý đạo siêu diệu của đức Thiên Tôn quả độ được muôn loài chúng sinh.
Thiên Tôn: Cũng bởi tại muôn loài vạn vật mà một gốc chia ra muôn ngàn cái khác biệt.
Dương Sinh: Kính xin đức Thiên Tôn giảng dạy nhiều cho về lý đạo cao siêu.
Thiên Tôn: Để phát huy đạo lớn hầu phổ độ chúng sinh nên bữa nay tôi mới đặc biệt thuyết giảng, giờ xin lược thuật về lẽ thiên cơ huyền nhiệm như sau:
Nhớ lại từ Nguyên Thủy Thiên Vương (Huyền Huyền Thượng Nhân, Lão Mẫu, Đại Đạo, Chân Phật, Chân Chúa) một khí hóa sinh, trong nhẹ nổi, trược nặng chìm trở thành trời đất. Hình thể trời bao bên ngoài trái đất chẳng khác nào lòng quả trứng cũng “trắng” bọc “vàng”, rồi nhờ đất mà có loài người sinh ra, bởi vậy cho là trên trời dưới đất tức là chưa biết chỗ đứng của đất, bởi vì trên dưới và bốn phía xung quanh đều là Trời cả. Trời tự nhiên như đồng hồ 12 giờ nọ xoay tiếp mười hai giờ kia, như 12 tầng lầu trong cơ thể con người, phía trên 12 tầng đó là vô cùng vô tận, nên còn gọi là 13 tầng Trời. Đất ở dưới nặng chìm tới mức cùng cực thì trở lại lúc ban đầu mà hòa với Trời, vì vậy mới lấy tiếng “cửu trùng” tức là tới cuối của 9 thì trở lại mức khởi đầu (cửu cực hựu hoàn nguyên dã).
Thứ nhất: Lấy đất làm tối cao, tối trọng vì là nơi tú khí tựu hợp, ngưng đọng khô cứng lại mà thành đá, đứng cao chót vót thành đỉnh núi.
Thứ nhì: Cao hơn mặt đất một chút gọi là gò, cao hơn nữa gọi là đồi.
Thứ ba: Là “cảo nhưỡng” tức khô cứng, hướng Tây Bắc thế đất khô se, cát cuốn bụi bay, cây cằn cỗi.
Thứ tư: Là “ty thấp” tức thấp trũng, hướng Đông Nam đất thấp, nước nông, hình thế rất trũng cạn.
Thứ năm: Là “xuyên trạch” tức sông trằm, phàm sông lớn, trằm rộng ắt đất trũng phải be bờ đắp đê để giữ nước.
Thứ sáu: Là “lưu sa” tức là cát chảy, dưới lớp đất đó có cát di chuyển qua lại theo mạch nước ngầm.
Thứ bảy: Là “hoàng tuyền” tức suối vàng vì đất vốn màu vàng nên nước trong đất vừa vàng vừa dơ là suối thuần âm.
Thứ tám: Là “trầm uyên” tức giếng chìm, sâu xa khôn lường, rồng thần ẩn náu, nguồn mạch của nó ăn thông tới “thái không”.
Thứ chín: Là “bạc khái” tức bảng lảng mỏng manh như sương, bọt nước, nước lớn đều cận kề hư vô vậy. Sau cửu trùng là thuần thanh khí, trên đạt cửu trùng thiên gọi là cực tĩnh sinh động, âm hết dương trùm, vì vậy mà quả đất giống trái trứng tròn, cho nên phải biết trên đất, dưới đất, xung quanh đất đều là trời vậy.
Dương Sinh: Bẩm, con thường nghe nói đức Ngọc Đế, trên cai quản 36 từng Trời, dưới trông nom 72 từng đất. Thưa, ý nghĩa như thế nào?
Thiên Tôn: Trời có quá nhiều phép, nhiều từng; người đời thường nói 9 từng, 12 từng, 33 từng, 36 từng... Giờ tôi xin giảng rõ như sau:
Trời vốn vô cùng, vô tận, trên dưới đều là Trời. Thuở Trời mới tạo thành, chi chít những tinh cầu, phải tới được nơi Thánh CảnhVô Cực mới tách lìa khỏi khí chất của các tinh cầu. Trời lấy 36 độ tròn là một vòng, cho nên nói 36 từng Trời. Trên trời, dưới đất như bóng râm và cây, bội số của 36 từng trời là 72 từng đất. Từ vòng tròn ở giữa chia vạch thành 9, 12, 28, 32, 33, 36. Như người xây cất nhà cửa, trước phải dựng sườn, rồi sau mới chia từng và ngăn phòng. Còn phân biệt phương hướng thì có đông,tây chính giữa và bắc, nam gồm cả thảy năm phía. Trời ban đầu là vô cực được biểu thị là một vòng tròn; rồi đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ba, ba sinh muôn loài; cho nên trời có vô số trời, lấy trời sáng, trời dương làm tốt; trời tối, trời âm làm xấu.
Tu đạo chớ quan trọng ở con số nhiều, ít. Các con số vốn do từ 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 biến hóa thành, không lìa xa lẽ Một của đạo lớn. Nay lấy con số 12 quan trọng, để nói sơ lược về trời, tiếp tới bội số của mười hai là 36 trời, vì các con số về trời thêm bớt, gia giảm biến hóa vô cùng tận. Kẻ lo tu đạo bao gồm được cả ba cõi trời, đất, người, hẳn là có thể giác ngộ thông suốt được ngay. Nay thuật sơ lược như vậy để người đời tạm rõ.
Đức Thầy giảng: [36:00]
Nói tới 36 nơi, mà có danh nghĩa, có tên tuổi, hỏi chớ tu chừng nào mới gặp? Tại sao chúng ta tu Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp khứ trược lưu thanh là chúng ta có thể ngộ, có thể biết tất cả những cái nơi này?
Vì thanh hòa thanh, động một cái là hiểu.
Như bây giờ tôi đọc, là phải cái gì?
Điển!
Cái âm thinh tôi nó chuyển ra, các bạn thu vô, mà thu vô chưa thanh, chứa không được, còn một cục đó chứa không được, cũng như là cái xà beng mà đập vô cục đá vậy thôi.
Nhưng mà làm sao phải đọc? Đọc cái này để chi?
Để cái phần điển đó nó chạy vô chỗ nào có trật tự trong cái Tiểu Thiên Địa của các bạn, rồi các bạn tu hành nó sẽ mở ra. Cho nên chúng ta tu, làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi đâu đó nó quân bình thì nó hiểu tất cả những tầng Trời không có khó khăn.
Cho nên nhiều người tu ngạo mạn, nói: “Tôi không, tôi không thiền nữa, tôi không có Pháp Luân Thường Chuyển!” Đó là bản chất lười biếng, bị con ma lười biếng đàn áp thành ra, nó không tiến và nó sẽ bị kẹt, vì người có trí, có óc thông minh, nhưng mà đọc cái này cho nó nghe, nó nghe cũng không vô, vì không có chỗ chứa, không có thông cảm, không có cái tầng số đó, làm sao nó minh bạch? Đó, cho nên nó bị kẹt.
Cho nên phải hành pháp để khai triển, mỗi từng quân bình thì vừa nghe là nó vừa có thể đạt tới chỗ đó; luồng điển nó tới chỗ đó liền, nó phân lớn ra và nó, và nó có thể thu nhỏ để nó hiểu. Thành ra cái phương pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định rất quý. Thật sự là chánh pháp để khứ trược lưu thanh và để khai mở các tầng. À… Cho nên thường thường những người tu Vô Vi mà có tham thiền đồ này kia, kia nọ, rồi một thời gian lâu, nói tới Tam Thập Tam Thiên Thế Giới, nó nhớ nó nói lại được.
Mà người đời buôn bán, nói Tam Thập Tam Thiên, nói rồi thì nó quên à, nó không vô được, mà nhiều cái tiếng đạo, nó không vô được.
Mà người tu hành rồi, tự nhiên nó ra những cái câu đạo, mà từ hồi nào giờ trong ý nó không có nghĩ cái chữ đó, nhưng mà nó nghĩ được, tự nhiên ra! Cái sáng suốt của nó tiếp đón và khai mở. [38:00]
Dương Sinh: Đức Thiên Tôn dạy chân lý siêu diệu, song con còn nghe tu đạo thì ắt vượt thoát khỏi tam giới; thưa, là thế nào?
Thiên Tôn: Tam giới gồm: Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới. Ngoài ba giới là các cảnh giới khác như Đại La Kim Tiên, Đại Thành Chí Thánh, Đại Giác Như Lai Phật.
Tôi tạm vẽ sơ đồ chỉ rõ như sau:
Tôi tạm vẽ sơ đồ chỉ rõ như sau:
ĐỒ HÌNH TAM GIỚI (SIÊU TAM GIỚI)
HÌNH VẼ BA CÕI (THOÁT BA CÕI) Kêu bằng Thoát Khỏi Ba Cõi
----------------------------------
ĐẦU CHÂN CHÂN CHÂN TIÊN CHÂN VÔ VÔ Là đầu thượng bên trên hết,
THƯỢNG TIÊN LÝ VÔ VÔ tới đó là mầu trắng; cái đầu
KHÔNG SẮC mình không rồi, thanh nhẹ
TRUNG THÁNH PHẬT TIÊN THIÊN THIÊN GIỚI CỰC lúc nào cũng thấy ánh sáng
------------------------------------------------------------------------------------
ĐẦU CHÂN CHÂN CHÂN TIÊN CHÂN VÔ VÔ Là đầu thượng bên trên hết,
THƯỢNG TIÊN LÝ VÔ VÔ tới đó là mầu trắng; cái đầu
KHÔNG SẮC mình không rồi, thanh nhẹ,
TRUNG THÁNH PHẬT TIÊN THIÊN THIÊN GIỚI CỰC lúc nào cũng thấy ánh sáng.
------------------------------------------------------------------------------------
ĐẦU Đó, cái đầu mà chỗ Nê
NÊ TIÊN LÝ VÔ VÔ Hườn, đó là Hoàn Cung,
HOÀN SẮC ngay trung tim này.
CUNG THÁNH PHẬT TIÊN THIÊN THIÊN GIỚI CỰC
------------------------------------------------------------------------------------
THẬN Trong đó là tịch mịch tối đen.
Khi mà người nào mà thiền
CHUNG PHÀM PHÀM PHÀM HẬU TƯỢNG DỤC HOÀNG nhắm mắt còn thấy đen thui,
CUNG NHÂN NHÂN NHÂN THIÊN THIÊN GIỚI CỰC đó là còn cái dục tính; dục tính còn rõ ràng. Đó, ở đó nó
cũng tạo ra cái thế giới tại thế
gian, chỗ tăm tối đó.
------------------------------------------------------------------------------------

Thiên Tôn: Tu trì đạo lớn nếu tới được cõi vô sắc giới tức đạt mức thượng thừa Vô Cực là cảnh giới tối cao. Tuy nhiên không được để cho hư không trói buộc, như người đeo vàng ở cổ chủ ý giấu mặt song vẫn có sự ngăn che, cho nên phải vượt thoát lên trên giống như nhà không lợp mái mới có thể thông suốt tròn đầ
Đức Thầy giảng:
Cho nên nói Đạo là vô cùng! Đừng tới đó thấy mình là đủ; luôn luôn phải đi tới. [41:36]
Thiên Tôn: … không mảy may ngăn mé, chẳng chút chi cản trở, đó gọi là siêu tam giới. Người đời rất nhiều kẻ truyền dạy sai chân lý, nên cho là chỉ có Phật mới có thể vượt thoát được tam giới, chẳng hiểu rằng Tiên, Thánh Vô Cực cũng ở ngoài tam giới.
Cho nên kinh sách có nói: “Phàm những gì thuộc về hình tướng đều hư ảo” (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng), không màu sắc hình tướng tức là vô cực vậy. Nếu như thoát xác tự do, từ bỏ thân “kim” vượt lên cõi không vô sắc, cõi không vô cực, gọi là mục đích tối hậu Niết Bàn.
Chúng sinh dưới gầm Trời đều là 96 nguyên linh, cho nên bất cứ quy y tôn giáo nào, đầu tiên ắt phải diệt chấp trừ tướng, bỏ thói phỉ báng tôn giáo khác, không được phân biệt, oán ghét!
Nếu cưỡng lại ắt là tâm có chứa vật, tuy có công đức nhưng tâm vẫn chẳng thể trống không được, như đồ hình biểu thị nửa âm,nửa dương (xem hình tròn vẽ nửa đen nửa trắng ở trên) chỉ mới tới được quả vị cõi thái cực sắc (sắc quá mức) chưa đạt được đạo quả siêu thăng cõi vô sắc.
Mong rằng sau khi nghe tôi thuyết pháp, mau mau sửa đổi sai lầm, bỏ chấp tướng. Nếu trái lời ắt sẽ uổng phí một đời khổ tu mà pháp chẳng thông, cuối cùng lại bị đày đọa chốn A Tu La - Địa Ngục.
Đức Thầy giảng:
Tu vẫn bị đày, chớ không phải nói tu mà không bị đày. Phải coi chừng! [43:18]
Dương Sinh: Đức Thiên Tôn đạo cao đức dày, những lời dạy đạo quả là cổ kim chưa từng nghe, tiết lậu lẽ huyền bí của đạo lớn, xin cúi đầu lạy tạ những lời khuyên nhủ.
Tế Phật: Thiên Tôn là bậc thầy của cõi Trời, cho nên đã bày tỏ lẽ huyền vi để cho người đời có thể hiểu biết sâu xa sửa chữa những điều sai lầm của các nhà truyền giáo giảng pháp, cùng bài bác tà thuyết, cấm chỉ dị đoan. Mong rằng chúng sinh dưới gầm Trời có duyên, chăm đọc sách này để tâm trí quán thông hầu tự mình giác ngộ đạo, khôi phục lại được bản tính nguyên thủy.
Thiên Tôn: Ba ngàn đại thiên thế giới đều do Thượng Đế sinh ra, kẻ truyền giáo tự đóng cửa gây chiến tranh hoài, khí ghen ghét lên cao mãi, cứ cố chấp không giải tỏa, cho nên chưa thể vượt thoát khỏi ngũ hành của ba cõi, thực đáng tiếc lắm thay!
Kể từ cõi Ngọc Thanh trở xuống thì cảnh giới cõi Thượng Thanh là tầng thượng khí ban sơ của Thượng Đế trực tiếp ân ban.
Cảnh giới Thái Thanh là tầng trung khí của Thượng Đế, xuống tới cảnh giới nhân gian là dư khí của Thượng Đế, cho nên cõi thượng giới của chư Tiên, chư Phật nhận trực tiếp nguyên tánh của Vũ Trụ, bởi vậy được thừa hưởng tầng khí rất sâu dày.
Cõi trung giới, các tinh cầu của chư Thần lại thừa hưởng khí ở thượng giới của chư Tiên, Phật biến thông, nên khí này đã bị loãng tạp.
Loài người tuy thiếu mất dư khí của Thượng Đế để thành thân, nhưng lại có thể tiếp thâu tính quang của Tiên Thiên để thành tựu vạn đức, vạn hạnh nên vẫn có thể trở về Trời. Nếu phản bội, ắt tự đem thân thừa hưởng dư khí của Thượng Đế nhận chìm xuống hố vật dục ô trược mà làm cho tan loãng hết vậy, tính quang nếu như bị mất hết tức là tự tạo Địa Ngục.
Mong thế gian hãy nhận chân lòng Trời cùng lời tôi nói, giữ gìn thiện tâm hầu dốc hết lực cứu vớt chúng sinh, giúp đỡ đồng bào vượt sông mê tới bến đạo, gọi là có ít lời dặn bảo.
Dương Sinh: Xin kính vâng lẽ đạo của đức Thiên Tôn ban truyền, quỳ lạy tạ ơn...
Tế Phật: Nay nhờ đức Thiên Tôn chỉ dạy rõ cơ huyền nhiệm, chúng sinh dưới gầm trời quả là có phước.
Vì thời giờ eo hẹp, tôi phải đưa Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường.
Thiên Tôn: Lý đạo siêu diệu nói không hết, chân tâm tự lo tròn.
Dương Sinh: Đa tạ đức Thiên Tôn, thầy trò con xin cáo từ.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [46:23]
[Hết cuốn 7 - ID# 00000000L24]