00000000L23

THIÊN ĐÀNG DU KÝ

THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG - Cuốn 6 - Hồi 8

09/10/1987

HỒI TÁM

LẠI DẠO CUNG THƯỢNG THANH

NGHE LINH BẢO THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 16 tháng 7 năm Kỷ Mùi (1979)

Thơ

Thiên Đàng thắng cảnh dị thường gian

Tuyệt hảo phong quang khí tượng hoàn

Đạo tặc ký vô môn bất bế

Tiên chân vấn đạo khấu thiền quan.

Dịch

Thắng cảnh Thiên Đàng khác thế gian

Phong quang tuyệt hảo vẻ khôn bàn

Bởi không cướp trộm nhà thường ngỏ

Hỏi đạo thánh tiên lạy cửa thiền.

Tế Phật: Đời sống vật chất ở thế gian hiện được đề cao quá mức, nên có nhiều kẻ đã ở nhà gạch kiên cố, tường lại còn bọc thép để tự giam mình ở trong. Tuy cướp trộm không vào được nhưng mỗi đêm khó bề đóng nổi cửa “phòng tâm” vì bọn giặc tình dục, phiền não luôn luôn rình rập! Trái lại các loại lầu gác ở chốn Thiên Đàng cửa đều bỏ ngỏ mà trộm không lén vào, cướp không phá phách, do đó mà tâm thần an nhiên tự tại, phong cảnh thảnh thơi nhàn hạ, đời sống thư thái như vậy há chẳng ham thích lắm sao? Hãy tới đó đi, chớ có ngại ngùng. Dương Sinh mau lên đài sen, bữa nay thầy trò mình dạo cung Thượng Thanh, bái kiến Linh Bảo Thiên Tôn lần nữa.

Dương Sinh: Thưa hay lắm. Con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: ... Đã tới cung Thượng Thanh, Dương Sinh xuống đài sen.

Dương Sinh: Chỉ trong thoáng giây cung Thượng Thanh quả nhiên đã hiện ra trước mắt, hào quang của 36 sao Thiên Cương và 72 sao Địa Sát xoay chuyển không ngừng, lóa cả mắt con.

Tế Phật: Phải trấn tỉnh tinh thần, tâm không được hoang mang.

Dương Sinh: Thưa vâng, hiện thời tâm con đã tạm yên ổn.... Lạy mừng ra mắt đức Linh Bảo Thiên Tôn.

Thiên Tôn: Miễn lễ. Hai vị bữa nay lại tới cung Thượng Thanh, rất đỗi hoan nghinh. Lần trước hai vị tới đây, vì thời giờ eo hẹp, tôi chỉ mới dẫn chứng sơ lược về 36 sao Thiên Cương cùng 72 sao Địa Sát, chưa giảng rộng được về đạo pháp, bữa nay tôi xin tường thuật tỉ mỉ về Linh Bảo Đại Đạo để hóa độ thế nhân. Mời hai vị qua xem cung điện bên cạnh.

Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn. Tới đại điện thấy bốn chữ lớn “Linh Bảo Hoàn Nguyên” ánh vàng tỏa chiếu sáng ngời, song không hiểu ý nghĩa ra sao?

Thiên Tôn: Hãy nán đợi chút nữa sẽ rõ.

Dương Sinh: Vào trong điện, thấy hoàn toàn trống rỗng, trong suốt tựa thủy tinh không vướng một mảy lông, vắng lặng vô cùng.

Thiên Tôn: Vì thần của mắt Dương Sinh chưa được trong, còn mắt tôi chỉ cần liếc qua đã nhìn thấy rõ hết.

Dương Sinh: Đức Thiên Tôn chỉ phủi nhẹ một cái mà cảnh vật trước mắt con biến sạch, chỉ còn thấy một viên ngọc trắng sáng bay lượn trước mắt tỏa chiếu rạng ngời, quay tít…. không rõ vật đó là vật gì?

Thiên Tôn: Ha ha, đó là nguyên linh của Dương Sinh. Ngay cả tam tài nếu như thiếu ba khí thiêng liêng của Thiên linh, Địa linh, Nhân linh ắt là trời sập, đất tan, người diệt. Chân linh vô cùng thiêng liêng quý báu cho nên gọi là “Linh Bảo”. Mặt trời, mặt trăng cùng muôn sao ở trên Trời, nước lửa gió ở dưới đất, tinh khí thần ở trong con người, tất cả đều linh thiêng quý trọng đối với tam tài. Tuy tôi coi sóc đạo pháp tiên thiên song muôn pháp vốn do Thái Thượng Lão Quân ban hành. Ở thế gian kẻ dùng pháp phải bái thỉnh Tam Thanh, người chế pháp phải là người anh linh vì cần tập trung tinh thần, trời trong, đất yên và người phải linh ứng. Vì nếu không thế thì gặp lúc thiên tai, địa biến người làm sao an định nổi? Cho nên hạnh của pháp cứu độ quý ở tâm thần chí thành chí thiết. Tam Thanh có hợp Tứ Chính thì linh khí trời đất mới thông suốt vậy. Đạo pháp sở dĩ diệu dụng được là nhờ ở chỗ dám cả gan; lớn gan thì pháp mạnh, nhỏ gan thì pháp yếu, không gan thì pháp cũng không.

Dương Sinh: Thưa, có thể truyền được cách giúp cho có gan để sử dụng pháp chăng?

Thiên Tôn: A ha! Điều đó xin miễn. Sử dụng được gan tốt lành thì tâm tốt lành, sự giúp đỡ đó là lòng trung dạ nghĩa, gan mật lớn thì bao trùm được cả Trời và diệu pháp của nó vô biên vô tận.

Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, tâm pháp thực tại diệu dụng vô cùng.

Thiên Tôn: Chúng sinh hiện thời không chịu bồi dưỡng tâm địa, kẻ học pháp phần lớn cống cao ngạo mạn, duy ngã độc tôn, bạn đạo có kẻ còn đố kị, ganh pháp tham của, hiếu dâm hiếu sắc chẳng chịu tuân theo pháp thức, thi hành pháp một cách bừa bãi, chuốc tà hại người, phản bội lời dạy của sư tổ. Loại người này sau khi chết ắt bị căn cứ theo lời nguyền mà chịu tội đày đọa Địa Ngục mắc lưới Trời, lưới đất chịu khổ hình, hoặc bị luân hồi qua các kiếp sâu bọ, cá tôm, gà vịt, trâu bò cùng người ngợm để nhận các nghiệp quả ác báo. Còn nếu như theo pháp một cách nghiêm chỉnh, thi hành pháp để giúp đời cứu người thì phải giữ đúng mười điều giới cấm dưới đây:

1. Không giết chóc, miệng và bao tử chớ tham.

2. Không tà dâm xâm phạm vợ người.

3. Không trộm cướp chiếm đoạt của phi nghĩa.

4. Không lừa gạt, chẳng nói lời gian dối.

5. Không say sưa, thường suy tư, lẳng lặng làm.

6. Thân quyến họ hàng chẳng ghét bỏ một ai.

7. Thấy việc thiện của người hết lòng giúp đỡ.

8. Thấy mối lo của người làm phước giúp giùm.

9. Bị người xử ác không để tâm báo thù.

10. Lòng luôn luôn lo lắng rằng chúng sinh chưa đắc đạo thì đạo của mình chưa thành.

Nếu như kiên trì giữ đúng được những điều luật răn cấm trên, người học đạo học pháp nào cũng được chứng quả thành đạo. Nay may mắn gặp kỳ phổ độ chúng sinh phải chăm lo nghe đạo, tu đạo, ngược lại nếu lỡ một dịp may, sau có hối hận thì đã muộn. Tôi đọc một bài thơ đạo để thân tặng như sau:

Thơ

Cửu u khảo đối vô nhàn nhật

Trú dạ thường văn thụ khổ thanh

Giai do tiền sinh bất niệm thiện

Tử hậu tương khiên nhập thiết thành.

Ngưu đầu bản tự vô tình giả

Ngục tốt hà năng hữu từ hành

Thiết hoàn viêm viêm sung cơ nỗi

Đồng điểu phi lai chác nhãn tình.

Oan gia trái chủ vô đầu sổ

Nhất nhất thù hoàn nghiệp báo minh

Sinh thời bất khắc thân tam bảo

Tử hậu hà năng miễn cửu u.

Nhất đọa vô minh trường dạ ngục

Thiên niên bất ngộ tử sinh do

Thiết sàng trú dạ thường như hỏa

Kiếm thụ chi điều bất thức thu.

Đề khốc chúng sinh tịnh ngạ quỷ

Oán tăng ngục tốt dữ ngưu đầu

Đao sơn lãnh lãnh thương thủ túc

Lô thán viêm viêm thảm khốc nhân.

Vạn bát thiên kiếp vô quy nhật

Túng xuất hoàn sinh cẩu trư thân

Vi nhân bất khẳng hành phương tiện

Tác quỉ hà duyên hữu thiện nhân.

Thử thị tam đồ bát nan xứ

Ưu bi khổ não hướng thùy trần

Nhất niệm ảo thân tịnh hư giả

Tứ đại ngũ thể bản phi chân.

Tam bách lục thập toái cốt tiết

Bì nhục hợp thành nùng huyết thân

Niệm niệm vô thường hằng bất trú

Triêu tịch phiền não loạn tâm thần.

Phụ mẫu thê tử quyền tương ký

Huynh đệ tỉ muội thiếu thời nhân

Nhất chiêu khí đoạn quy không khứ

Bách hài lạn hoại tổng thành trần.

Túng hữu nam nữ đầu biên khốc

Chung nan cứu bạt miễn trầm luân

Các tự khuyến tu kim nhật thiện

Thiện mạc lưu tài phó hậu nhân.

Dịch

Cõi âm phủ triền miên khảo đảo

Suốt ngày đêm ảo não thở than

Thay vì lúc sống gian tham

Chết đi ngục sắt giam cầm khổ đau.

Quỷ đầu trâu nào đâu thương xót

Quân coi tù há tốt được sao

Xích xiềng lửa đói thét gào

Chim đồng bay tới mổ vào mắt sâu.

Nợ oan gia đứng đầu sổ cái

Bao oán thù nghiệp phải trả xong

Sống không vì đạo hết lòng

Chết nào tránh khỏi mắc tròng quỷ vương.

Đọa tối tăm đêm trường tù ngục

Chịu luân hồi cả ức triệu năm

Tháng ngày giường lửa ngồi nằm

Cành cây sắc nhọn kiếm đâm rã rời.

Tiếng rên siết lũ người ma đói

Lời oán than bọn quỷ đầu trâu

Chân tay rơi rụng thảm sầu

Lửa thiêu dao chém còn đâu thân mình.

Muôn ngàn kiếp khổ hình đày đọa

Được đầu thai cũng hóa chó heo

Làm người chánh đạo chẳng theo

Tới khi thành quỷ pháp nào độ cho.

Chốn Địa Ngục nỗi lo đày đọa

Nẻo luân hồi biết tả cùng ai

Thân giả tạm sẽ xa rời

Ngũ hành tứ đại tơi bời nát tan.

Nắm xương khô tro tàn xác nọ

Mớ thịt da máu mủ thân kia

Phút giây tan tác chia lìa

Hồn đau giọt lệ đầm đìa sớm hôm.

Nghĩa đoàn tụ vợ con bố mẹ

Tình sum vầy anh chị một nhà

Sớm nao nhắm mắt cách xa

Xác thân rữa nát thành tro hóa bùn.

Dẫu con cái khóc than níu lại

Song người thân vẫn phải đọa đày

Trau dồi đạo pháp mỗi ngày

Chớ vì danh lợi tiền tài bỏ quên.

Tế Phật: Nghe lời dạy của Thiên Tôn, Dương Sinh xúc động lệ tuôn trào, người đời nếu như được nghe bài thơ đạo cảnh tỉnh thế gian này hẳn là những ai có tâm huyết sẽ rất cảm kích, theo gương đó lo tu đạo để sớm lên cõi Thiên Đàng.

Thiên Tôn: Tôi sẽ hướng dẫn nguyên linh của Dương Thiện Sinh trở về nguồn cội.

Dương Sinh: Quả nhiên chẳng còn thấy viên ngọc chiếu sáng trước mắt nữa.

Thiên Tôn: Đã có một đấng “Linh Bảo Thiên Tôn” ngụ tại tâm con, vì nguyên linh của mỗi người chính là bậc Thiên Tôn của mình, cho nên mới nói: “Muôn pháp do tâm đẻ ra” (Vạn pháp do tâm sở sanh). Muốn độ kẻ nguy nan, ắt phải tìm biện pháp giải quyết, bởi vậy pháp đã do tâm mà có, tâm chính ắt pháp chính, có thể đạt được kết quả tự phát triển đạo. Ngược lại tâm tà ắt pháp tà, chắc chắn sẽ hại người tổn đức. Người đời lần lần cầu pháp chẳng đắc pháp, cầu đạo không đạt đạo bởi vậy nói: “Đạo cao rồng cọp chầu, đức nặng quỷ thần phục” là cách diễn tả tượng trưng cho sự đắc pháp đạt đạo. Bởi vậy ta khuyên người đời chớ nên bỏ tu đạo đức để cầu giỏi pháp thuật thần thông, như những bậc vĩ nhân chẳng hạn, mặc dù bản thân các vị đó không có pháp thuật, nhưng lúc nào cũng được thần linh gia hộ, đó chính là được pháp bảo vệ. Học đạo cũng giống hệt vậy, chỉ cần kiên tâm tu đạo, nhẫn nại chịu sự hành hạ của ma quỷ, một sớm công đức sâu dày, điển quang sung túc tự nhiên ma quỷ lánh xa, hẳn là “dẫn hỏa quy nguyên”.

Dương Sinh: Thưa, tại sao gọi là “dẫn hỏa quy nguyên”?

Thiên Tôn: Tu đạo nếu như chịu luyện hỏa khí tất nhiên khí nóng sục sôi bay thẳng lên cao, thanh nhẹ trở về nguồn cội. Còn nếu như tâm trí không kiên định, “hỏa khí” nguội ngắt, tất nhiên khí lạnh xuống thấp mà sinh ra đọa lạc. Vì muốn phổ độ chúng sinh, tôi đặc biệt lên đài giảng về kinh “Linh Bảo Định Quán” tức cuốn kinh chỉ dạy phép yên lặng để xét thấu chân tâm thiêng liêng quý báu.

LINH BẢO ĐỊNH QUÁN KINH

Phù dục tu đạo, tiên năng sả sự.

Kẻ muốn tu đạo, trước phải dứt bỏ lòng trần.

Giảng: Sửa đổi tâm tính gọi là “tu đạo”, không nhiễm trần trược gọi là “sả sự”.

Ngoại sự đa tuyệt, vô dữ ngỗ tâm.

Việc trần dứt hết, chẳng còn động tâm.

Giảng: “Ngoại sự” là việc ngoài đời tức lục trần, cần phải tránh xa.

Lục trần gồm: sắc, thanh (tiếng), hương, vị, xúc (đụng chạm), pháp (phép). Không được nhiễm sáu thứ nói trên gọi là “đa tuyệt” (dứt sạch). Quên được tâm ở trong và cảnh ở ngoài gọi là “Vô dữ ngỗ tâm” tức không để cho tâm ngang ngược.

Nhiên hậu an tọa, nội quán tâm khởi.

Rồi sau mới ngồi yên xét thấu chân tâm.

Giảng: Các nỗi buồn phiền đã hết ngồi mới được yên. Nếu thấy một ý niệm dấy lên ắt phải lo trừ diệt ngay để cho tâm được hoàn toàn yên tịnh. Tâm trí huệ bừng sáng trong nội giới gọi là “nội quán” tức xét thấu chân tâm. Ý niệm chưa diệt trừ được hết gọi là “tâm khởi” tức tâm dấy động. Ý niệm trước dấy lên, cảm giác sau theo liền, do đó nếu diệt được tâm, ắt cảm giác mất ngay nên gọi là “trừ diệt”. Phàm tâm không dấy là “an”, cảm tính không động là “tĩnh”, do đó gọi là an tĩnh.

Kỳ thứ hữu tham trước, phù du, loạn tưởng diệc tận diệt trừ.

Kế đến có tham lam, trôi nổi, nghĩ xằng thảy diệt trừ hết.

Giảng: Tâm không dấy động, vọng niệm đã mất, vọng tưởng không sinh, không còn gì để mà tham nữa gọi là diệt trừ.

Trú dạ cầm hành, tu du bất thế.

Đêm ngày chăm lo công phu, phút giây không ngừng nghỉ.

Giảng: Lời nói ban ngày trong, ban đêm đục, trong đục cả hai không còn, đêm ngày lo tu không có gián đoạn, nên gọi là “bất thế” tức không bỏ.

Duy diệt động tâm, bất diệt chiếu tâm.

Chỉ trừ tâm động, không trừ tâm sáng.

Giảng: Nghĩ xằng phân biệt nọ kia là động tâm, nếu thức tâm đuổi được nó đi gọi là “diệt” tức dẹp bỏ. Tâm trí huệ luôn luôn chiếu sáng không chút gián đoạn nên gọi là “bất diệt chiếu tâm” tức tâm chiếu sáng đời đời.

Đản ngưng không tâm, bất ngưng trụ tâm.

Chỉ chuyên chú tâm không chẳng chuyên chú tâm trụ.

Giảng: “Ngưng” có nghĩa là chuyên chú, tâm chẳng dấy động gọi là “không tâm” tức tâm trống rỗng. Không chấp trước bất cứ điều gì gọi là “bất ngưng trụ tâm” tức không chuyên chú tâm trụ.

Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ.

Không ỷ lại vào bất cứ một pháp nào, mới mong tâm đứng vững hoài hoài.

Giảng: Nếu chỉ ôm riết một pháp là “trước tướng” tức giữ mãi cái xác chết mà bỏ mất cái hồn sống. Tâm phải không chấp pháp mới khỏi ỷ lại và tự đứng vững một mình. Hiện có mà vẫn lặng thinh coi như không có kêu là “thường trụ” tức mãi mãi còn đó.

Nhiên tắc phàm tâm tháo cạnh, kỳ thứ sơ học tức tâm thậm nan, hoặc tức bất đắc, tạm đình hoàn thất.

Phàm tâm luôn tranh giành, kẻ mới học đạo trừ nó rất khó hoặc trừ không nổi, nhưng nếu bỏ qua coi như không có ắt nó tự mất đi.

Giảng: Tính quen phiền não tuy có thể diệt trừ, song kẻ mới học đạo sức định thần chưa có, nên trừ diệt nó rất khó. Nếu như biết tạm ngưng sự cố gắng diệt trừ nó thì tự nhiên nó mất đi.

Khứ lưu giao chiến bách thể lưu hành.

Tranh giành qua lại đẻ ra trăm cái xấu.

Giảng: Tâm mới chớm nhiễm cảnh, cảnh đã nhào tới trói buộc tâm, thành ra tâm và cảnh cùng bị nhiễm. Ý niệm tham dục và đạo đức cả hai đều khó cắt đứt, khó ruồng bỏ, nên tánh đó luôn luôn giao chiến với nhau. Tánh vọng niệm nếu như không trừ được, tự nhiên nó đẻ ra hàng trăm ngàn tánh xấu khác, nên gọi là “Bách thể lưu hành” muôn thứ tánh hoành hành.

Cửu tinh tư, phương nãi điều thực, vật dĩ tạm thu bất đắc, toại phế thiên sinh chi nghiệp.

Kiên nhẫn suy nghĩ kỹ càng mới có thể thuần thục chín chắn, chẳng thể vội vã thâu lượm kết quả để rồi ngàn muôn đời nghiệp đạo chẳng thành.

Giảng: Định được tâm không để cho nó động ắt là khế hợp được nó với chân lý thường tại. Không dứt tuyệt được ý, sự nghiệp tu đạo có cả ngàn kiếp cũng phế bỏ. Tu đạo giống như xào rau, lửa thiếu, mắm muối không nêm ắt sẽ nhạt nhẽo, sống sượng tất nhiên phải làm lại một cách cẩn thận mùi vị mới thơm ngon. Nếu như không kiên nhẫn nổi tức là tự hủy hoại muôn ngàn đời nghiệp đạo chẳng thành.

Thiểu đắc tĩnh kỷ.

Mình còn thiếu thanh tĩnh.

Giảng: Mới thanh tĩnh chưa phát được huệ cho nên gọi là “thiểu đắc tĩnh kỷ” tức mình thanh tĩnh chưa đủ mức.

Tắc ư hành lập tọa ngọa chi thời.

Vẻ uy nghi được biểu lộ vào những lúc đi đứng nằm ngồi.

Giảng: Đi, đứng, nằm, ngồi là những cử chỉ biểu lộ bốn tư thế của kẻ tu hành.

Thiệp sự chi xứ, huyên náo chi sở.

Chốn giao tiếp, nơi ồn ào.

Giảng: Sự giao tiếp biểu lộ rõ được các vẻ của tính. Mọi tâm đều dấy động gọi là chốn gây huyên náo.

Giai tác ý an.

Phải làm cho ý yên định.

Giảng: Bỏ loạn theo yên gọi là “tác ý” tức dẹp “ý” vì “ý” là thức thứ bảy hay phân biệt nghĩ ngợi. Đạt được sự hòa nhã gọi là “an” tức yên tịnh.

Hữu sự vô sự thường nhược vô tâm xứ. Xứ tĩnh xứ huyên, kỳ chí duy nhất.

Cái có cái không đều trở về cõi hư vô. Chốn yên chốn động cuối cùng hợp làm một.

Giảng: Có và không ràng rịt lẫn nhau, lặng thinh được thì cả hai đều tan biến, muôn pháp không hai duy chỉ một.

Nhược thúc tâm thái cấp, tắc hữu thành bệnh, khí phát cuồng điên, thị kỳ hậu dã.

Nếu như bó buộc tâm gắt quá ắt sinh bệnh, uất khí thành điên cuồng, đó là nguyên do.

Giảng: Tâm thiên lệch thành chấp trước nên gọi là “thúc” tức bó buộc. Tâm hướng ngoại bị hình danh sắc tướng bên ngoài lôi cuốn riết sinh điên cuồng, bởi vậy kẻ tu đạo phải thâu tâm về, không được cố chấp tính nóng nảy, nếu làm sai ắt sinh bệnh.

Tâm nhược bất động, hựu tu phóng nhiệm, khoan cấp đắc sở.

Nếu tâm bất động, phải lo thả lỏng, mau chậm đúng lúc.

Giảng: Theo định phát huệ gọi là “phóng nhiệm” tức thả lỏng. Định và huệ cùng hòa hợp gọi là đắc sở tức thấu đạt. Đạo tu tâm cần phải thâu mở tự nhiên.

Tự hằng điều thích.

Luôn luôn tự điều hợp thích nghi cùng hoàn cảnh.

Giảng: Định nhiều tức ngu, huệ lắm tức điên. Định huệ được dùng đúng mức gọi là “điều thích” tức là tự mình điều hợp sao cho thích ứng được với mọi trạng huống.

Chế nhi bất trước, phóng nhi bất động, xử huyên vô ố, thiệp sự vô não giả, thử thị chân định.

Gò bó mà không trói buộc, buông thả mà không động loạn, ồn ào mà không đáng ghét, phiền phức mà không chán nản, đó là chân định.

Giảng: Vắng lặng mà vẫn tỏa sáng, tỏa sáng mà vẫn vắng lặng, không dùng mà dùng luôn, dùng luôn mà không dùng tức là tới được ngọn nguồn của sự vắng lặng, đó mới là tính định chân thực.

Bất dĩ thiệp sự vô não, cố cầu đa sự. Bất dĩ xử huyên ố, cưỡng cầu tựu huyên.

Không khiến được sự giao tiếp vui vẻ nên sinh lắm chuyện, vì muốn một cách gượng ép nên sinh rối rắm.

Giảng: Thói quen trần trược phải luôn luôn chế ngự nó, không được thả lỏng khiến sinh ra phiền phức.

Dĩ vô sự vi chân trạch, hữu sự vi ứng tích.

Lấy sự không phiền toái làm nơi trú ngụ đích thực, gặp trở ngại phải giải quyết một cách êm xuôi.

Giảng: Thấy được bản tính hư không vắng lặng mới hết ồn ào phiền toái, và chỉ có nơi đó mới là căn nhà đích thực. Trí huệ sử dụng được hết mức thì gặp trở ngại nào cũng đều qua khỏi nên gọi là “ứng tích” tức ứng hợp đúng cách.

Nhược thủy kính chi vi giám, tắc tùy vật nhi hiện hình.

Nếu lấy gương nước để soi ắt mọi vật đều hiện rõ.

Giảng: Bản tâm vắng lặng trong như gương nước, phản chiếu không cản trở, muôn vật đều lộ rõ gọi là hiện hình.

Thiên xảo phương tiện, duy năng nhập định.

Mọi phương cách muốn giỏi chỉ nhập định mới có thể.

Giảng: Muôn pháp vốn trống rỗng, vắng lặng không chút lay động nên gọi là nhập định.

Huệ phát trì tốc tắc bất do nhân, vật lệnh định trung cấp cấp cầu huệ, cấp tắc thương tính, thương tắc vô huệ.

Huệ phát mau lẹ ắt chẳng bởi người, trong khi “định” chớ gấp gáp mong có huệ, gấp gáp ắt làm thương tổn tới “tính”, thương tổn ắt không có huệ.

Giảng: Muốn biết rõ một cách gấp gáp chân định liền mất, ham liên lụy các hình tướng tâm tính bị thương tổn, nên nói “vô huệ” tức không có trí huệ. Do đó phải thể hiện đạo một cách tự nhiên, đạo mới tự sống còn vậy.

Nhược định bất cầu huệ, nhi huệ tự sinh, thử danh chân huệ.

Nếu như “định” mà không cầu huệ thì huệ mới sinh, đó gọi là chân huệ.

Giảng: Tâm vốn vắng lặng diệu dụng vô cùng, nên rất dễ phát sinh chân trí huệ.

Huệ nhi bất dụng, thực trí giả ngu.

Có huệ mà không dùng tới, thực biết rõ mà như dốt.

Giảng: hiểu được “vô phân biệt” tức không so đo nên gọi là “bất dụng” tức không dùng tới; ẩn giấu tài năng nên gọi là “nhược ngu” tức coi giống như đần. Kẻ tu đạo phải đạt tới mức đại trí mà giống như ngu đần có thể đếm được.

Ích tư định huệ, song mỹ vô cực.

Định huệ gia tăng cùng đẹp vô vàn.

Giảng: Im lìm và sáng tỏ cùng hòa hợp lay động và tĩnh mịch đều giống nhau cho nên nói “song mỹ vô cực” tức cùng đẹp muôn vàn.

Nhược định trung niệm tưởng, đa cảm chúng tà, yêu tinh bách mị, tùy tâm ứng kiến.

Nếu như trong lúc định còn nghĩ ngợi vẩn vơ, quyến luyến tà khí, vấn vương trăm mối, yêu ma sẽ theo đó mà xuất hiện liền.

Giảng: Nếu như đem tâm cầu hình tướng, các hình tướng liền ứng hiện, tà ma thảy đều giành nhau tới nhiễu loạn.

Sở kiến Thiên Tôn, chư Tiên, chân nhân thị kì tường dã.

Được thấy Thiên Tôn, chư Tiên, chân nhân thì là điềm tốt lành vậy.

Giảng: Nếu như thấy các đấng Thiên Tôn, Tiên chân, Thần tướng xuất hiện tuy là điềm tốt lành song không được hí hửng mon men tới gần.

Duy lịnh định tâm chi thượng, khoát nhiên vô phú. Định tâm chi hạ, khoáng nhiên vô cơ.

Trước khi định phải làm sao cho tâm trống vắng không gì che phủ. Sau khi định, tâm rỗng rang không gì ngăn cản.

Giảng: Ý niệm trước không sinh gọi là “vô phú” tức không nảy nở, ý niệm sau không dấy gọi là “vô cơ” tức không mầm mống.

Cựu nghiệp nhật tiêu, tân nghiệp bất tạo.

Nghiệp cũ ngày một tiêu tan, nghiệp mới chẳng gây thêm.

Giảng: Thói tật kiếp trước đều diệt trừ được hết gọi là nghiệp cũ ngày một tiêu tan. Tâm không còn động nên gọi là nghiệp mới không gây.

Vô sở quái ngại, huýnh thoát trần lung.

Không còn chỗ trở ngại, thoát xa cái lồng trần thế.

Giảng: Nhất quyết không nhiễm nên nói là không còn chỗ trở ngại. Cởi gỡ mọi trói buộc nên gọi là thoát xa cái lồng trần thế giam giữ.

Hành nhi cửu chi, tự nhiên đắc đạo.

Chịu khó thực hành những điều vừa nói trên lâu tự nhiên đắc đạo.

Giảng: Không ngừng để trí theo dõi cùng quyết tâm thực hành những điều đã chỉ dẫn gọi là “hành nhi cửu chi”. Đúng lẽ hợp chân lý gọi là “đắc đạo”.

Phù đắc đạo chi nhân, phàm hữu thất hầu.

Phàm những kẻ đắc đạo tất có được bảy điểm như sau:

Giảng: Phàm những kẻ đắc đạo, tâm lộ rõ bảy điểm tượng trưng như sau:

  1. Giả tâm đắc định, dị giác chư trần lậu.

Kẻ tâm đạt định dễ thấy được các tính trần hiện ra.

Giảng: Tâm đạt thanh tĩnh, thấy được hết các ý nghĩ phàm tục.

  1. Giả túc tật phổ tiêu, thân tâm khinh sảng.

Kẻ trừ hết những thói tật kiếp trước, thân tâm nhẹ nhõm sảng khoái.

Giảng: Chân khí thanh nhẹ được như chân khí của bào thai còn nằm trong bụng mẹ, tất cả những tật xấu vô phương sửa chữa từ trước tới giờ thảy đều diệt trọn, tâm đạo hợp chân lý, thân mình nhẹ nhõm không già.

  1. Giả điền yểu tổn, hoàn niên phục mệnh.

Kẻ tự bồi bổ để khỏi chết sớm, sẽ hồi sinh trẻ lại.

Giảng: Xương cứng cáp tủy tràn đầy là “điền bổ yểu tổn”. Giữ gìn dung nhan khiến cho khỏi già nua gọi là “hoàn niên phục mệnh”.

  1. Giả diên số vạn tuế, danh viết tiên nhân.

Kẻ số mạng dài cả mười ngàn năm gọi là người Tiên.

Giảng: Sống lâu không chết, số mệnh kéo dài cả vạn năm, tên được ghi vào sổ Tiên nên gọi là “Tiên nhân” tức người cõi Tiên.

  1. Giả luyện hình vi khí, danh viết chân nhân.

Kẻ luyện hình chất thành khí lực gọi là “chân nhân” tức người thành đạo.

Giảng: Đạt được nguyên khí ban đầu gọi là “luyện hình vi khí” tức luyện hình chất thành khí lực. Tính tình chân chính vô vi gọi là “chân nhân” tức người đắc đạo.

  1. Giả luyện khí thành Thần, danh viết Thần nhân.

Kẻ luyện khí thành Thần gọi là “Thần nhân” tức người đạt đạo.

Giảng: Chân khí thần thông, âm dương không thể đo lường, nên gọi là “Thần nhân” tức người thông suốt đạo.

  1. Giả luyện thần hợp đạo, danh viết chí nhân.

Kẻ luyện thần hợp làm một với đạo gọi là “chí nhân” tức người thành đạo.

Giảng: Tinh thần chân chính hòa hợp được với đạo gọi là “chí nhân” tức người đắc đạo, còn gọi là Kim Tiên, Như Lai.

Kỳ ư giám lực, tùy hậu ích minh.

Sức đạo soi càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ.

Giảng: Cái sức soi rọi kêu là “giám lực” tức chiếu sáng hoài không dứt. Sự sáng gia tăng gọi là “ích minh” tức sáng mãi không ngừng. Tóm lại sức đạo càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ vậy.

Đắc chí đạo thành, huệ nãi viên bị.

Tu tới mức thành đạo, trí huệ ắt tròn đầy.

Giảng: Nếu như bổn tính đạt đạo, trí huệ sáng sủa tròn đầy, muôn pháp đều thông.

Nhược nãi cửu học định tâm, thân vô nhất hậu, xúc linh uế chất, sắc tạ phương không, tự vân huệ giác, hựu xưng thành đạo giả, cầu đạo chi lý, thực sở vị nhiên.

Nếu như học định tâm đã lâu mà không có được một chút thanh điển, tuổi tác thêm cao, thể chất suy nhược, sắc diện phai tàn mà còn tự cho là mình mở huệ giác cùng đắc đạo thì quả thực chẳng hợp lý chút nào.

Giảng: Thần sáng suốt hợp với lẽ đạo ắt đạt được chân lý, tâm cảm thấy không còn thân xác, xa rời sống chết. Kinh Tây Thăng (về Tây Trúc tức cõi Phật) có nói: “Nếu như quên mất gốc rễ sinh thành làm sao có thể biết cội nguồn lý đạo”? Bởi vậy kẻ học đạo mãi mà chẳng thấy có được chút thanh điển hẳn là công lực chưa tới mức, sự sáng đã mất tiêu, tuổi tác thêm cao, thân thể suy nhược còn tự cho là mình mở huệ và đắc đạo thì quả thực chẳng thể có được. Bởi vậy phải nắm lấy thời gian, dũng mãnh tinh tiến.

Thơ

Trí khởi sinh u cảnh

Hỏa phát sinh ư duyên

Các cụ chân chủng tính

Thừa lưu thất đạo nguyên

Khởi tâm dục tức tri

Tâm khởi tri cánh phiền

Liễu tri tính bản không

Tri tắc chúng diệu môn.

Dịch

Trí sinh bởi tại cảnh

Lửa bốc lại do duyên

Khắp chốn tính gieo giống

Tràn lan đạo mất nguồn

Động tâm ắt muốn biết

Tâm động biết thêm phiền

Rõ đặng tính không thực

Hiểu rành cửa diệu huyền.

Dương Sinh: Cúi đầu lạy tạ đức Thiên Tôn đã ân ban kinh báu, tai nghe chân kinh nếu như những chỗ trí hiểu nổi tâm thần rất thanh tĩnh sảng khoái. Chúng sinh dưới gầm Trời từ nay lại có thêm một cuốn chân kinh để có thể làm tấm gương soi sáng chung.

Thiên Tôn: Mong những ai theo học đạo trong thiên hạ đều có thể học kinh “Định Quán” này. Những kẻ học tập thiền định cần phải tụng niệm để có thể tự nhập định thông chân lý, nếu như có điều không thể bàn bạc chứng nghiệm nổi cũng đừng nên khinh thường. Tôi lại dẫn Dương Thiện Sinh tới thăm điện Linh Tu nghe Linh Bảo Cao Chân thuyết pháp.

Dương Sinh: Thưa hay quá. Cảm tạ sự hướng dẫn của đức Thiên Tôn. Điện Linh Tu lớn mênh mông, không vương mùi tục lụy, có rất nhiều bậc chân tu đạo cao đức rộng, vị nào vị nấy toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, nét mặt đầy vẻ từ bi ân đức. Xin thỉnh vấn bậc cao chân, không rõ Ngài đã tu luyện cách nào mà ngày nay đạt được quả vị này?

Huyền Linh Kim Tiên: Lành thay, tôi thành đạo đã được hơn trăm năm rồi, vốn sinh trưởng tại Tứ Xuyên, song thân lại qua đời từ thuở tôi còn thơ ấu, cho nên phải lang thang khắp chốn xin ăn, song lòng dạ không tham lam, chỉ mới lưng lửng bụng đã ngưng. Có một bữa nằm nghỉ bên lề đường, đại sư Mông Thánh Đức thâu nạp tôi làm đệ tử, truyền đạo ban pháp, trải quá mười năm khổ luyện, gặp bao phen ma quỷ thử thách mà vẫn không thối chí nên mới đạt được thành quả như bữa nay.

Dương Sinh: Thưa Ngài có thể tường thuật lại quá trình tu đạo của Ngài để làm gương cho thế nhân noi theo không?

Kim Tiên: Việc hồng trần tôi chẳng còn thắc mắc, nên thiết nghĩ không cần bàn tới làm chi.

Thiên Tôn: Để độ người cứu đời, mong Kim Tiên cứ bày tỏ.

Kim Tiên: Thưa cũng được, không phải tôi thiếu lòng từ bi, song người đời khó độ. Nhớ lại quá khứ tu đạo của tôi thực là gian nan vất vả, chịu đủ mùi khổ cực đắng cay, uống nước lạnh, ngủ giường tre, khi tham thiền vận khí, nhập định xuất thần, trải hàng tháng hôn mê, bệnh mỗi ngày một tăng chứ không thuyên giảm, mình mẩy ghẻ lở cùi hủi, bị thầy đuổi ra khỏi cửa, cơ thể suy nhược nhưng chí đạo vẫn vững bền. Sau, thầy ban linh đơn, uống vào, những chỗ lở loét ăn da non đóng vẩy, khỏi dứt bệnh, khỏe khoắn như xưa. Có một lần sử dụng thần lực chữa bệnh, bệnh nhân mỗi ngày một đông, có cả hàng ngàn người xin chữa bệnh, quan phủ cho là tôi dùng bùa ngải mê hoặc tụ tập dân chúng liền bắt tôi bỏ ngục. Ở trong ngục tôi liền tọa thiền nhập định và đã thấy được rằng đó là nghiệp báo của nhiều kiếp trước tích tụ, để tránh khỏi bị tù tội tại chốn âm ti sau này ắt phải nhờ gông cùm thế gian giải trừ, cho nên ở trong ngục không những lòng tôi chẳng chút oán hận, mà còn tĩnh tâm sám hối để mong được giải nghiệp, lấy việc tu hành để lập công chuộc tội. Sau nửa năm điều tra xong, thấy tôi không có tội liền thả tôi ra.

Một hôm vào buổi chiều trên đường về gặp một thiếu phụ nhan sắc tuyệt vời chắn đường tự nguyện vái lạy, tôn tôi làm thầy để cầu âm dương song tu, những lời nói ra đều là những lời dâm đãng thiết tha van nài, cử chỉ cực kỳ khiêu khích sự động tình, xác thân quá khiêu gợi dễ làm sa ngã lòng người. Tôi liền nghiêm giọng cự tuyệt, thấy tôi đứng yên không nhúc nhích, nàng ôm chầm lấy vuốt ve mơn trớn, nhưng tôi vẫn kiên định được đạo tâm. Cuối cùng nhắm không thể quyến rũ nổi tôi, nàng mới bỏ đi. Sau này tôi được rõ, nàng chính là ma nữ chuyên đem nhan sắc để thử lòng dạ kẻ tu hành. Quả thực là may mắn, vượt ải mà thoát nổi cảnh ngụp lặn trong biển tình ái ân dục lạc, cho nên kẻ tu đạo phải rất thận trọng trong vấn đề này, nếu gặp cảnh ngộ tương tự, phải nên tâm niệm ngay rằng xác thân huyền ảo, phấn trắng son hồng trang điểm đẹp đẽ đều cốt để làm mờ mắt mê đắm tâm hồn, quả là dao sắc giết người.

Thơ

Tu tâm tiên tác như thị quán

Sắc tướng giai ảo hữu hà tham

Tứ đại giả hợp vô thường hạn

Khổ khổ liên thiên xuất thế nan.

Dịch

Tu tâm phải hiểu rõ căn nguyên

Chớ có say mê cảnh hão huyền

Thân xác nay còn mai đã mất

Chán đời khổ ải muốn thành Tiên.

Chẳng đáng sợ lắm sao! Phàm những kẻ tu đạo ắt gặp nhiều hoạn nạn, vả lại để nghiệp chướng ba kiếp tiêu tan, cho nên ta phải sẵn sàng hân hoan chấp nhận để cho yêu ma khảo đảo. Khuyên người đời tu đạo, gặp nạn ma hành ốm đau khổ sở, hoặc thân thể, cửa nhà đổi thay tan nát, chớ có nản lòng thối chí, một sớm ngã gục ắt là ma thắng đạo bại vậy. Tôi tu tới mức tiêu trừ được nghiệp chướng, phát hiện được tâm linh nguồn cội, thoát xác bay thẳng lên cõi Đại La Tiên Cảnh, muôn kiếp sống tiêu dao, cùng các Kim Tiên trao đổi ánh hào quang của đạo, vĩnh viễn thoát vòng luân hồi.

Tế Phật: Vì thời giờ có hạn, thầy trò tôi phải trở lại Thánh Hiền Đường. Cảm tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên đã ban ân chỉ giáo.

Thiên Tôn: Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên, xin cáo từ.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [41:44]

[Hết cuốn 6 - ID# 00000000L23]


----
vovilibrary.net >>refresh...